Cách đối đáp gọi là tréo cẳng ngỗng

dạy chúng ta những gì?

 

BÙI THẾ TRƯỜNG

 

Vấn đề cần đươc nêu ra là:

 Tại sao lại có những cách đối đáp goi là tréo căng ngổng như thế nầy trong kinh kệ Phật giáo.:

Một vị tăng hỏi: “ Phật là ai?”

Thiền sư đáp: “ Miệng là cửa họa”

vv…

Hai câu hỏi và trả lời như trắng và đen, không hòa không hợp, không ăn nhậu gì cả. Vô duyên làm sao? Tại sao?

 

Dẫn nhập: 

Chúng ta là Phật tử, vào chùa lạy Phật và có được cái phước là được nghe qúy Hoà Thượng giảng kinh và được tụng được hai quyển kinh hoặc là Lăng Nghiêm, hoặc là Kinh Viên giác. Vậy thì bài học gì sau khi nghe sự giảng dạy của qúy Thầy và cũng do tụng hai quyển kinh trên nhiều lần mà chúng ta cần nhớ mãi là: xin đừng bám vào đâu. Bám nhiều khổ càng nhiều, buông bỏ phần nào thì càng đở khỗ phần đó, còn buông bỏ hết là có được niềm an lạc, là sống trong thiên đàng ở hạ giới. Tôi đặt một tên để gọi và dễ nhớ cho bài viết nầy là vô trụ. Vô là không. Trụ là bám vào hay trụ vào bất cứ chỗ nào. Không bám vào bất cứ ai, bất cứ nơi nào, bất cứ chủ thuyết nào, như chủ thuyết ảo tưởng Mác Lê Mao,thiên đàng cộng sản bịp bợm” dưới trần thế, hãy ném tất cả chúng vào sọt rát, và đốt chúng rồi cùng nhau nhảy múa reo hò, thì sẽ cãm thấy được tự do thật sự. Vì sao? Không bám là buông ra. Nhưng buông ra là khi mình đã cầm hay bám vào nó. Vậy tốt hết là đừng cầm hay đừng bám, thì khỏi cần buông. Người Ấn khi được đến bến bờ thì họ hò reo, và nói Parramitta, là đến bến bờ rồi. Vậy mỗi ngày trong mọi ngày nếu chúng ta muốn đến bến bờ bên kia thì hãy bỏ hết, bỏ hết, ném chúng vào sọt rát, ném mọi chủ thuyết, mọi giáo điều ngu xuẩn, hoang tưởng, mọi dối trá lừa bịp, mọi trò bẩn thỉu vào các hố rát dơ bẩn nhất, và phóng hỏa đốt chúng, rồi tung tăng hò reo, nh̉ay múa, thì bạn sẽ được an vui ngay trong hiện tại. An vui trong hiện tại là chính bạn đã đến bến bờ bên kia ngay đó. Bạn an vui, người khác cũng an vui lây. Buông bỏ những gì? mọi sự soi mói người khác, mọi rình rặp, mọi kiễm soát đủ cách, đủ mọi hình thức, mọi chủ thuyết đi nghích lại đạo đức dân tộc, là tội ác, mọi sự độc đóan ngu xuẩn,là quái thai của nhân loại mà nó đã và đang tàn phá tận gốc rễ luân thường đạo lý con người, hãy ném chúng vào những sọt rát dơ bẩn nhất và hỏa thiêu chúng. Ðốt chúng và chúng ta nhảy múa reo hò. Mọi người làm được như vậy thì cả nhân loại đều đến bờ bên kia. Niềm an lạc hiển lộ. Mẹ Việt Nam sẽ sống lại.

Vì buông bỏ hết, vì không bám vào bất cứ vào mọi cái gì, mọi điều gì, thì  hành động và ý nghĩ không bám lại có liên quan đến thức. Vậy thức là gì?

 Thức là gì? 

Trong Duy thức học có nói về thức. Mà thức là gì? Bây giờ chúng ta nhìn trong kiến hay gương soi. Ta thấy năm thứ hiện diện trong ta là: mắt, tai, mũi, lưỡi và thân. Năm thứ có tên kể trên tự ch́inh chúng thật sự là không cãm nhận hay tự biết. Vì không cãm nhận hay biết bởi vì chính chúng không có sự hiện diện của thức. Nhưng trong năm cái thứ trên, lại chứa năm cái gọi là tinh tế hơn, nó ẩn trong mà không ai nhìn thấy, nhưng nhờ Duy thức học phát hiện, gọi đó là thức và giúp năm cái trên phát ra sự hiểu biết khi ta nhìn thấy ta chẳng hạn. Còn bây giờ, chúng ta không nhìn chúng ta trong gương soi, mà lại nhìn ra ngoài, chúng ta cũng thấy năm thứ khác nữa, đó là: sắc, thinh, hương, vị và xúc. Ta gọi chúng là năm trần. Năm cái ở trong gọi là căn, hợp với năm cái ở ngoài gọi là trần, liền phát sinh ra năm cái biết, mà năm cái biết có được cũng phải nhờ năm cái tinh tế nằm trong sau chúng, được gọi là năm thức. 

Khi con mắt gặp trần thì cho chúng ta cái hiểu biết về cảnh vật, về con người, về mọi diễn biến xãy ra chung quanh.Ta gọi là Nhãn thức. Khi tai ta tiếp xúc với thính, ta lại biết tiếng, gọi là Nhĩ thức. Khi mũi gặp trần hương, ta biết mùi, gọi lả Tỹ thức. Khi lưỡi gặp trần vị, ta biết vị gọi là Thiệt thức. Khi Thân gặp trần xúc, ta biết cứng mềm, gọi là Thân thức. Tóm lại, năm cái ở trên ta, khi hợp với năm cái ở ngoài, ta có cái biết, ta lại có tên gọi cho từng cái biết, là cái biết của mắt khác với cái biết của lưỡi, hay của thân. Mỗi cái thức trên đều có công dụng khác biệt nhau, không thể thay thế cho nhau. Nghĩa là không thể dùng xúc giác mà nghe tiếng chim hót, hay dùng cái nhĩ thức mà biết được cái cay của ớt khi ăn nhầm.

 Tại sao có sự biết khác nhau như vậy? Như trên ta đã nói, có năm cái mà chúng ta không nhìn thấy, hiện hữu dưới năm căn, và nương nhờ năm căn, mà tạo nên cái phân biệt, mà ta gọi là năm thức, hay ta gọi bằng danh từ khác là Tâm pháp. Khi gặp chữ tâm pháp nầy, làm chúng ta khó hiểu, vì chữ pháp nó có nghiã rộng lớn áp dụng cho nhiều thứ, ví như con mắt thì ta gọi nó là pháp, tai, mũi vv cũng là pháp. Khi con mắt thấy và ta biết được là nhờ có cái gì ở trong, giúp ta thấy biết, cái giúp đó được thấy gọi là Tâm, hay tâm pháp, ví như nhãn pháp, nhĩ pháp vv.

 Nếu Thượng đế tạo ra con người, có được chừng ấy thôi, đừng tiến thêm nữa, thì có lẻ  không có cái mà ta gọi là chiến tranh, và chúng ta cũng không trôi giạt khắp năm châu bốn bể, để được hít cái không khí được gọi thật sự là tự do, dân chủ, thật sự là nhân quyền, thật sự là hạnh phúc, thật sự là công bằng, và chứng thật đâu là phúc lợi. Hay nói một cách khác là chúng ta biết chúng ta là con người thật sự. Con người thật sự là thấy thì nói là thấy, biết thì bảo biết, không thì bảo không. Không phải là con người thật sự khi biết thì lại bảo là không biết, hay không biết lại bảo là có biết, đó là những con người ở chế độ cộng sản, còn nói những điều đúng với lương tâm loài người tiến bộ liền bị bịt mồm, bịt miệng và ném bỏ ngồi tù, nên sợ đành im tiếng. Con người thật sự là con người biết gìn giữ từng tất đất của tổ tiên để lại, không bán đất, không nhường đất để cầu vinh, để giữ địa vị, để củng cố phe đảng của mình. Không phải là con người thật sự, khi làm ô uế thanh danh Việt nam trên thế giới qua những ăn chận công khai 30% tiển viện trợ thế giới qua các việc trình diễn chiếu lệ gọi là đấu thầu, qua các vụ trộn cắp tại các cửa hàng của nước Nhật và chuyên chở bằng phi cơ và bị cảnh sát Nhật thộp cổ trọn đám. Nhục ơi là nhục cho cả dân tộc!  

 Nhưng, trớ trêu thay, thượng Đế lại tạo nên một anh khác nữa, anh nầy cũng nằm sâu trong con người, mà vai trò thì nguy hiễm hơn, mà chúng sanh trên vũ trụ nầy lại không ngớt chịu khổ đau vì tù tội, vì tham lam, vì giành giựt, vì chiến tranh, vì dối trá, vì lừa đão, vì bịp bợm,  vv và trăm ngàn thứ vì khác....lại cũng vì tại anh nầy mà ra cả. Đó là thức thứ bảy, tên là Mạt Na thức. Dĩ nhiên vị trí của Mạt Na  thức đứng giữa thức thứ sáu và thức sau cùng là A lại da thức.

 Để tránh hiểu lầm vì có hai cái thức ở trong con người, nên cần phải chính danh. Thức thứ sáu, tựa vào căn, nên gọi là thức của căn, như thức của nhãn căn, của nhĩ căn, vv nôm na gọi là thức của ý, hay gọi dứt khoát là ý thức. Nếu dùng chữ thức để mà gọi mà nghĩa của nó là để phân biệt thì gọi như thế nầy: Nhãn thức, Nhĩ thức, Thiệt thức, Thân thức và Ý thức. Còn anh chàng thứ bảy thì sao?  Tiếng Phạn, Mạt na là Ý, nên gọi anh ta là , nghiã là anh ta chuyên về suy nghĩ, mưu toan, lo lắng của Ý. Công thì chính anh ta đứng đầu, mà tội thì cũng do anh ta mà ra, cũng do anh ta đứng đầu. Nhưng, bởi là chúng sanh, nhìn mọi vật đều cho là thật, chấp không thành có, chấp có thành không, được gọi là biến kế sở chấp, nên sống bằng vọng tưởng viển vông. Nên vai trò của anh Ý nầy, dưới cái nhìn của chúng sanh, thì chính anh ta gây tội nhiều hơn là công mà anh ta đóng góp. Như thế, ta goị Mạt na là căn của thức thứ sáu. Nên cũng còn gọi là ý căn. Hay gọi là Ý, vắn tẵt cho gọn.

 Tại sao lại có Ý căn? 

Đây là một câu coi là khó giải thích. Nếu thức là cái hay phân biệt, thì căn là khí cụ để chứa cái thức. Ví dụ như lúc xem hoa, thì có một chủng tử trong A Lại Da thức tức là thức thứ tám, hay gọi là Tạng thức, hiện ra làm cho con mắt khi thấy hoa, mà ta gọi là nhãn thức, đó là cái biết của con mắt. Cái chủng tử nầy có khi con người chào đời. Khi mất đi rồi, cái chủng tử nầy trở về A lại da thức, nằm đó, chờ được tái sinh, nhập vào một thân xác mới, của con người mới, mặc cái áo mới. Cũng như khi nghe tiếng, thì chủng tử thức hiện ra liền làm lỗ tai có tác dụng nghe tiếng, gọi là cái biết của tai, cũng gọi là nhĩ thức. Tương tự, tỹ thức, là cái biết của mũi. Và thiệt thức, là cái biết của lưỡi. Thân thức là cái biết của thân.

 Như trên đá nói, căn là dùng để chứa thức. Nếu căn không có thì thức cũng không. Nếu căn có mà không có thức thì không thể nào phân biệt được. Như trường hợp người chết, nhãn căn của họ có, nhưng lại không thể thấy được, vì không còn có thức. Lúc đó thức tại A lại da thức, lià bỏ cái thân xác nầy, chu du..

 Ngược lại, có thức mà không có căn, thì không có cái gì để chứa thức, thì dù chủng tử có đầy đũ đi nữa, cũng không thể làm sao mà có khởi hành động. Ví dụ như người bị bịt hai mắt kín lại, thì không thể nào xem hoa, hay dùng hai tay hay mũi thì cũng không thể ngữi hoa được.

 Sự khác nhau giữa ý thức và Ý căn, là một sự khác biệt vô cùng quan trọng, mà người học Phật hay các bậc tu hành, cần biết ranh giới của chúng, để dừng đúng lúc và đúng nơi. Chính vì không biết dừng lại đúng chổ, mà biết bao tai hoạ xãy ra: trộm cướp, tù tội, giết người, chiến tranh, mà danh từ trong Phật giáo gọi là sống trong điên đảo, sa đọa trong trầm luân của kiếp luân hồi. Cụ thể là nếu chúng ta nhìn thấy đóa hoa hồng với màu sắc tuyệt đẹp, nghĩa là căn là mắt và trần là bông hồng hay là do nhãn thức hay do nhãn căn gặp nhau Tức thì cái thức nơi con mắt cho ta biết cái bông hồng nầy tuyệt đẹp. Tới đây là đủ. Quá đủ. Biết thêm chút nữa, lại càng thêm rắc rối.

  Rắc rối như thế nào?

 Từ đây về sau, chính là nguyên do của những nguyên do, tội lỗi cũa những tội lỗi, đau khỗ của mọi đau khỗ từ đoạn nầy mà ra. Khi Ý căn liền có mặt, can thiệp vào, chỉ đạo cho ý thức. Cũng khác nào cấp trên chỉ đạo cho cấp dưới vậy.  Bản tính chính của Ý căn là bản tính của mọi tính toán, phân biệt, mưu toan, mọi thủ đoạn, mọi gian trá, kể cả bịt miệng, bịt mồm, cho côn đồ giã dạng, đánh, đụng xe, dùng xe cán người, đổ lỗi đổ thừa, dưới làm sai, dù trên chẳng bao giờ “đúng”. vv... Nghĩa là, khi ý căn nhảy vào nhãn thức,thì liền kẻ đang xem bông hồng thay đổi ngay lối nghĩ suy. Họ trầm trồ, xuýt xoa, liền hỏi chổ mua, chổ trồng, rồi đến thăm quan, vì cãm thấy qúa vừa ý, mua thì người chủ không bán, bèn có quyết định táo bạo là cướp: nhất là trong xã hội độc tài, độc đảng như cộng sản, liền gán cho người chủ cái biệt danh là phản động, người chủ bị nhốt tù mút mùa, bông hồng tự động lấy đem về, gây giống làm của mình, còn vơ người ta thì cưỡm luôn cho trọn gói. Bông hồng là ví dụ tượng trưng cho dễ hiểu. Nếu thay bông hồng bằng con người như Ông họ T. ở Ðan mạch, vua chả luạ mà cả thế giới ai cũng biết mà ngao ngán cho chế độ chuyên tu về bịp và cướp công khai giữa ban ngày.

Đau khổ bắt đầu từ đây. Lịch sử sang trang từ thời điễm nầy. Chúng sanh sống trong trầm luân khổ ải cũng vì từ đó. Di tản và vượt biên, vượt biển cũng do nó mà ra. Chiến tranh cũng từ đó mà tái diễn mãi. Hận thù triền miên. Và cũng từ đó, xã hội mới chỉ đứng ì một chỗ, rồi dùng mọi danh từ dao to búa lớn mà ca ngợi, nào hồ hởi, nào đỉnh cao trí tuệ của loài người, nghe mà tủi thẹn.

 Vì bản tính của Ý là như vậy, nên các bậc chân tu ( tôi lập lại là “chân tu”)

chớ không phải là tu theo kiêu “quốc doanh”, goị là sư quốc doanh, chùa quốc doanh, thầy quôc doanh, linh mục quốc doanh vv. ) nêu lên một vấn đề quan trọng để cho mọi người cần nhớ là: chặt đứt mọi ngôn ngữ, và trực nhận chân tâm. Nói rõ hơn, mục đích là làm sao không cho cái Ý vào, không cần sự chỉ đạo của Ý, để mọi người ngừng lại đúng chổ, đúng nơi, đúng lúc. Nếu chúng ta hiểu rõ tại sao, thì chúng ta mới hiểu được các cuộc đối đáp giữa các thiển sư, giữa thầy và trò khi Thầy dạy trò chỉ cách trực nhận cái tâm của mình. Ngược lại, thì chúng ta hoàn toàn mù tịt khi nghe họ đối thoại với nhau, chuyện của họ đấi đáp như ở trên cung trăng. 

Câu chuyện trong Thiền như sau:

 Thầy Tư Viên đang cuốc đất trồng rau, thì gặp Thiền sư Duy Nghiêm.

 Thiền Sư bảo Thầy:

   - Trồng thì trồng, ta không cấm, nhưng trồng đừng cho nó mọc rể.

 Thầy Tư Viên:

     - Bạch Hoà Thượng, nếu trồng rau không mọc rễ thì đại chúng lấy gì mà ăn?

 Hoà Thượng đáp:

     - Ông cũng có miệng nữa sao?

 

Cuộc đối đáp nầy dạy chúng ta là đừng có dính mắc.  Cái ví von như việc trồng rau thì trồng nhưng trồng đừng mọc rễ. Mọc rễ là ý nói về Ý căn. Nhưng rau bây giờ chúng ta  trồng đều mọc rễ. Chúng ta bây giờ làm đâu là dính đó. Mọc rễ ở đó. Vì mọc rễ, nên tham sân si cũng mọc lên,  nghĩa là cái ý căn tham dự, đồng thời nói lên mọi sự mưu toan, lừa đảo, cướp đoạt, biển thủ, giết người vv cũng từ đó, cũng do sự mọc rễ mà ra nên nỗi.  Vì mọi người đang sống đều sống bằng mọc rễ hết. Nên họ bơi móc, lấy điễm và trù dập mọi người cũng vì do rễ mọc. Xem màng diễn Cải Cách ruộng đất từ Trung quốc tới Việt Nam thì đủ thấm thía . Xã hội càng thêm điên đảo và chả còn cái đạo đức cần có tối thiểu của con người đối với loài người. Bởi vì rễ đã mọc phủ đầy bằng tham, sân , si, bằng hằng hà lớp vô minh, bằng cái ngu dốt thiển cận và bịp đời mà tưởng là khôn ngoan nhất đời, đỉnh cao trí tuệ (!). Qúy vị nắm vững chưa?

 Tại sao đừng dính mắc?

 Thiền Sư Đã Địa ở Trung quốc, được nổi danh nhất là do chính Ông dạy môn sinh phương pháp trực nhận cái chân tâm, bằng cách chặt đứt mọi  ngôn ngữ, hay đúng hơn là chận đứng cái ý căn tham dự vào làm cho chúng ta đi xa cái chơn tâm đi. Nhờ vậy mà chúng ta được gần chơn tâm hơn. Ông Thiền sư chỉ dùng cây gậy của Ông và đập xuống đất, và không nói một lời. Đập gậy xuống đất, là ý muốn nói chắt đứt nọi vọng niệm, mọi tham dự của Ý căn, mọi tranh cải phù phiếm xa vời cái chơn thật. Đó là cách dạy, cách trả lời  và cách giúp cho mau thấy chơn lý.

 Ví như, có ai đến hỏi Ông, Thưa Thiền sư, Thế nào là Phật pháp.

Thiền sư liền cầm gậy và đập xuống đất một cái. Không một lời. Không ai hiểu gì hết. Vì không hiểu mới là Phật pháp. Còn nói rằng tự cho mình hiểu, mình sẽ thao thao bất tận, vào thế giới ngôn ngữ, nghiã là có suy tư, vận dụng trí não, có Ý căn tham dự và chỉ đạo, thì càng đi xa cái cần hiểu. Vì Phật pháp là bặt dứt ngôn ngữ, không thể nói, luận hay bàn. Còn bàn luận là còn đi xa chơn lý. Như khi uống nước xong, liền biết và hiểu vị của nước, mọi ngôn từ đều bặt  tiếng. Bởi vì nếu viết hằng chục quyển sách mà diễn tả cái vị của nước thì làm sao diễn cho đúng được, bằng khi uống xong một hớp nước. Sống trong thế giới tư bản rồi là kh̉oi cần đọc những quyển sách lãi nhãi của Karl Marx hay những người Cộng sản viết về tư bản, họ viết chỉ để nhồi sọ dân ngu, và chính họ cũng không hiẻu chút nào cả. Ngược lại, sống dưới chế độ Cộng sản rồi, khỏi cần xem trang sách nào của Marx hay Mao nữa. Vô ích và rẻ tiền. Bởi lẽ, có sự tham dự của Ý căn chỉ huy họ. Viết đến đây, lại nhớ trong lúc đi học: “ Người khôn đi học, thằng ngu dạy đời”. Thằng ngu lên lớp, nói dài, nói dai, nói cả ngày và toàn là nói dóc, dầy ngu ngơ, phù phiếm. Thế mà đất nước không tụt hậu sao được. Cũng vậy, trong cuộc sống, với sự gia chạm hằng ngày, ta có nhiều kinh nghiệm từ bản thân là kẻ nào mà nói nhiều, nói dài, nói dai, lại chính là bọn nói dóc, bọn phỉnh gạt. Nên coi chừng họ

 Cái ví von của Thiền sư Đã Địa, là chỉ dùng gậy đập xuống đất. Nghiã là chính Thiền sư cũng không dùng một lời nói dù là giải bày. Mà đập xuống đất là chặt đứt mọi lời, mọi suy nghĩ kéo theo sau nó. Đập gậy xuống đất là giúp ta tỉnh ngộ.

 Cũng từ đó, chúng ta đọc sách Thiền,chúng ta mới hiểu cái ý nghĩa chặt đứt ngôn ngữ, của các Thiền sư đối đáp lẫn nhau, để họ chặn đứng ý căn mà thôi, để được gần với tánh viên giác hay chơn tâm. Nếu chúng ta không hiểu Thiền sư Đã Địa dạy mà tôi giải thích ở trên, thì chúng ta khó mà hình dung nổi và hiểu nổi các thiền sư đối đáp nhau, khi chúng ta đọc sách thiền, đôi khi ta nghĩ các vị đó mát thần kinh hay là chính mình bị chạm điện vậy.

 Ví dụ

 a- Như trong quyển Thiền lâm loại tu, quyển II, một thầy tăng hỏi Đại long Trí Hồng: “Phật là ai”?

Trí Hồng đáp: “Phật là Ông”

Tăng: “ làm sao hiểu”

Trí Hồng: “Ông sờ bình bát không có quai à?”

 Mọi câu trả lời đều chuyển qua một đề tài khác với câu hỏi đã nêu.  Đó là một cách chặt đứt mọi ý khởi. Trí Hồng đáp: Phật là Ông.  Nhưng Thầy tăng lại không hiểu, Trí Hồng,liền chặt đứt cái ý muốn dùng văn tự rườm rà để giải thích, bèn chuyển sang một câu trả lời khác, khác hẵn câu hỏi, như cây gậy của Thiền sư Đã Địa đập xuống đất, Ngài nói: Ông sờ bình bát không có quai à?”. Nghiã là chấm dứt mọi ngôn từ, quay về mình, thấy Phật ở trong. Còn nếu không thấy, chỉ nên tu trì thêm thêm nữa.

 b- Hay Tăng Huệ Siêu hỏi Thầy Pháp Nhãn: “Phật là ai?”

Pháp Nhãn: “ Ông là Huệ Siêu”

 Đó là những câu vấn đáp có mục đích chặt đứt ngơn ngữ để giúp kẽ hỏi gần được chân như hay có huệ căn thì mau giác ngộ. Đáp: “Ông là Huệ Siêu”. Mục đích là Phật ở trong Ông, Phật là Tâm của Ông.

 c- Đây là sự vấn đáp của Thiền sư dạy các môn hạ của Ngài là đừng bám vào văn tự. Nên chặt đứt văn tự.

Cuộc đối đáp giữa Sư Chân Tịnh Khắc Văn và một thầy tăng.

Tăng hỏi: “Phật là ai?

Sư: “ Cười hết sức sảng khoái”.

Tăng: “ Chổ tôi h̉oi có gì mà đáng cười?”

Sư: “ Ta cười Ông cố đạt ý theo văn tự suông.”

Tăng: “Không ngờ bửa nay xui xẻo”

Sư’: “ Kh̉oi làm lễ”

Rồi thầy tăng lui về với chúng.

Sư lại nói: “ Kiến giải của ông vẫn theo văn tự”

 

Đó là Sư muốn nhấn mạnh sự giải thích để mở kiến thức của Ông vẫn còn trong lý luận văn tự. Vẫn còn trong mê hồn. Vẫn chưa thấy ánh sáng.

 

Kết luận: 

Câu hỏi và câu trả lời tréo cẳng ngỗng, nhưng lại có công năng mãnh liệt: giúp kẻ hỏi khi đã tu được mau đạt đạo, và đối với chúng sanh lại tránh bớt lỗi lầm. Bởi vì nói riết thì càng xa chơn tâm. Nên miệng là cửa họa. Chặt đứt ngôn ngữ, bằng gậy của Thiền sư Đã- Địa, để được gần chơn tâm hơn hay gần viên giác. Thế à !  Và nghĩ về cuộc dới nầy có khác chi đâu?  A ha !

 

                                                BÙI TH Ê TRƯƠNG

                                         San Francisco CA -2/09

 

 

Bài Tháng Năm . 2009


Biên tập: Cư sĩ Liên Hoa (Nhật Minh)
Sửa văn bản tiếng Việt và trình bày : Diệu Tịnh | Sửa văn bản tiếng Anh: Diệu Ngọc
Phụ trách mạng : Chánh Niệm | Email: Padma9mt@hotmail.com


You are visitor number since January 24, 2005