Đến
khi Đức Phật vang danh uy đức thì có
hàng ngàn đồ chúng theo Ngài, hàng vua
chúa cũng như những giáo chủ nổi tiếng
của hàng ngoại đạo thời bấy giờ đều phải
kính nể Ngài, theo học với Ngài. Và khi
có quá nhiều người theo Phật thì thành
phần đồ chúng không phải chỉ thuần là
các vị Thánh Tăng như thời kỳ đầu nữa,
mà có cả những người nghèo đói đi theo
Phật để cầu thực, khác với những vị cầu
đạo trước kia. Người cầu đạo thì không
nghĩ đến ăn, mặc, ở, kể cả mạng sống
cũng không màng đến. Còn người cầu lợi
dưỡng luôn coi trọng việc ăn, mặc, ở,
coi trọng thân ngũ uẩn; cho nên cuộc
sống của họ bị vật chất chi phối rất
nặng nề.
Và khi
hàng vạn người đi theo Phật, thì tất yếu dẫn
đến tình trạng khó khăn trong việc tu hành;
vì sự ăn mặc bị thiếu thốn, bởi thí chủ
không thể cúng dường cho quá nhiều người,
ngoài ra, vì phàm phu nên việc ốm đau, bệnh
hoạn dễ xảy ra, lại gặp mưa to gió lớn trong
mùa mưa bão ở Ấn Độ rất khủng khiếp cũng gây
rất nhiều trở ngại, khó khăn cho việc du
hành, người bị bệnh nặng phải chết, hay bị
nước cuốn trôi chết, bị mất y bát, v.v… Vì
vậy, Đức Phật mới chính thức ban bố luật an
cư cho chúng Tăng và Đức Phật cũng an cư,
không du hành. Tuy nhiên, việc an cư cũng
phải có nguyên tắc.
Như
vậy, qua thời kỳ thứ hai, gọi là “Nhựt thăng
phổ chiếu”, thì số người thường tùy theo
Phật đông, trong đó hầu hết các vị Thánh
hiền, mỗi vị đều tìm hang động ẩn cư; còn số
đồ chúng đa nghiệp không du hành khất thực
được, mà ở yên một chỗ để tu và có Phật tử
cúng dường, gọi là "đàn việt tống thực". Vì
vậy, Đức Phật khuyến hóa chư Tăng phải an cư
và Phật tử tại gia cúng dường hộ đạo.
Điều
Phật dạy đàn việt hiến cúng để chư Tăng ở
một chỗ tu hành trong ba tháng an cư có trái
với luật Phật dạy trước kia là phải đi khất
thực hay không ?
Lúc
khởi đầu, Phật thuyết pháp ở Lộc Uyển cho
năm anh em Kiều Trần Như, Ngài có chỉ đạo rõ
rằng các Tỳ kheo không được đi khất thực,
duy nhất một mình Phật đi khất thực. Sau đó,
Kiều Trần Như đắc quả A la hán, Phật cho
phép ông cùng với Phật đi khất thực, 4 Tỳ
kheo còn lại phải ở yên tu hành, thấp nhất
là phải đắc được quả Tu đà hoàn mới được đi
khất thực. Vì Tu đà hoàn là vị đã tự tại đối
với hoàn cảnh bên ngoài và nội tâm bên trong,
nghĩa là không còn bị thiên nhiên chi phối
và không bị phiền não quấy rầy. Người tu còn
bị sự tác động của thiên nhiên và phiền não
thì đi khất thực sẽ có hại hơn là có lợi.
Khất thực đúng pháp không phải vì ăn mà đi
xin, nhưng sử dụng duyên khất thực như là
một phương tiện để giáo hóa mọi người; còn
vì ăn mà đi xin là ăn mày thực sự. Mà muốn
giáo hóa người thì phải giáo hóa mình trước.
Vì vậy, giáo pháp Phật là tam chuyển Pháp
luân, tức thị chuyển, chứng chuyển và khuyến
chuyển. Thị chuyển là nói giáo pháp, chứng
chuyển là nói việc tu hành của mình, phải
đắc đạo mới đem thành quả tốt đẹp này dạy
cho người được, là khuyến chuyển. Còn học
giáo lý mà không thực hành, rồi dạy người,
chỉ là nói suông. Tu hành phải được mức tối
thiểu là không bị thiên nhiên chi phối,
không sợ đói khát, nóng lạnh, nước cuốn, mưa
bão và tâm đứng yên, phiền não không khởi,
dù gặp việc gì, lòng cũng không dao động.
Chư Thiên đến cúng dường cũng không mừng, Dạ
Xoa nuốt cũng không lo. Đó là trạng thái của
người đắc sơ quả, các thầy đi khất thực phải
nhớ điều này, không sợ, không mừng, không
lo, không giận, không có gì có thể đe dọa
mình. Ráng giữ được tâm đó thì mang thân
giải thoát và tâm thanh tịnh đi vào đời khất
thực, quần chúng trông thấy sẽ phát tâm. Tổ
sư Minh Đăng Quang xưa kia cũng ở trạng thái
này, thiết nghĩ ít nhất Ngài cũng đắc sơ quả,
nên Ngài không sợ bệnh hoạn, không sợ đói
khát và không sợ chết chóc. Chính sở đắc của
Tổ đã tác động đến những vị đệ tử đầu tiên
gặp Ngài tự nhiên không thiết gì đến cuộc
đời này và nhất định đi tu. Các vị khất sĩ
du Tăng ngày nay phải học cốt lõi này để đạt
cho được y bát chân truyền theo ý của Tổ đề
xướng.

Về sau,
khi cả năm anh em Kiều Trần Như đắc quả La
hán, Đức Phật mới phân công cho mỗi người đi
một phương. Điểm này gợi chúng ta nhớ rằng
phải đắc La hán mới đi một mình được; vì tâm
các vị La hán đã thanh tịnh, thân đã giải
thoát, ví như con tê giác một sừng thẳng
đường tiến tới, không sợ và không có gì cản
trở được. Chưa đắc quả, các sư không nên một
người đi một phương. Trước kia, Phật nói mỗi
người một phương; nhưng đến thời kỳ thứ hai,
Phật dạy khi đi, các thầy phải hai người
cùng đi. Vì đối với các vị Thánh La hán, tâm
vô nhiễm, nên các Ngài đi giáo hóa rất tuyệt
vời, không có gì có thể tác hại các Ngài.
Còn về sau, những vị theo Phật nhưng không
đắc quả mà đi một mình rất nguy hiểm, thậm
chí Phật còn khuyên các thầy không nên đi
chung với phụ nữ, vì sẽ khiến cho người khác
nghi ngờ.
Hai Tỳ
kheo cùng đi sẽ bảo vệ cho nhau, giúp tránh
được hành động xấu của người ngoài, hoặc một
người bị sa ngã thì cũng có bạn cứu thoát.
Không có bạn đồng tu hỗ trợ rất nguy hiểm
trên bước đường tu; nhất là ngày nay các
thầy trẻ ở am cốc một mình, hoặc những vị
lớn tuổi mà chưa đắc Thánh quả ở một mình
nên cẩn thận. Chừng nào đắc La hán mới không
sợ. Chưa đắc quả, phải nương chúng Tăng,
không sống riêng. Riêng tôi, trải qua hơn 60
năm tu hành, không bao giờ tôi sống riêng.
Sống với đại chúng, chúng ta cảm thấy an
toàn.
Mới tu,
sống chung với đại chúng, bị phê bình, cảm
thấy bực mình, khó chịu; nhưng nhờ như vậy
chúng ta mới phát hiện ra nghiệp và phiền
não của mình rất nhiều. Phải biết rằng còn
bực bội, còn khó chịu là còn ác nghiệp, phải
sám hối, không thì uổng cả cuộc đời xuất gia.
Đến bao giờ các anh em đồng tu không phê
phán thì biết mình tương đối được; đến bao
giờ tâm đứng yên, không bị lợi danh tình ái
chi phối là mình được giải thoát. Nhờ người
chung quanh phê bình, chúng ta kiểm chứng
được chính bản thân mình. Vì vậy, Phật dạy
con mắt của Tăng quan trọng, vì đó là con
mắt của tập thể; nói cách khác, những người
cùng tu thấy chính xác và chỉ ra những lỗi
lầm, chúng ta nên lóng nghe để tự sửa mình,
vì mình ít thấy được lỗi mình.
Theo
luật an cư, Phật dạy các Thầy đều phải đối
thú an cư, tức phải nương nhau tu. Nương
nhau về thân mạng, nương nhau về tu tập và
nương nhau về tình cảm. Theo kinh nghiệm
riêng tôi, trải qua nhiều năm hành đạo, tôi
thấy việc an cư có nhiều lợi ích vô cùng,
chưa nói đến lợi lạc về tu tập. Nhờ an cư,
chúng ta mới có cơ hội sống chung với chư
Tăng ở khắp nơi tập hợp về, nên trước nhất
chúng ta học với nhau phong tục tập quán của
các nơi, để sau này làm du Tăng khất sĩ,
chúng ta không bị trở ngại trong việc hành
đạo. Tôi thuyết giảng được nhiều nơi là nhờ
có nhiều bạn đã cùng an cư. Thật vậy, khi
tập hợp lại, có điều kiện gặp gỡ và trao đổi
với các vị cao Tăng, chúng ta học được ở các
Ngài rất nhiều điều thiết thực. Tôi ra miền
Bắc mở đạo tràng thành công, nhờ biết rõ
miền Bắc là cái nôi của Phật giáo, nên tôi
đến đảnh lễ Hòa thượng Pháp chủ Thích Đức
Nhuận, đắp y thưa thỉnh Ngài chỉ giáo, thì
Ngài thương mình có tấm lòng thành thật,
Ngài mới kể cho tôi nghe về hành trạng của
các vị Tổ miền Bắc, về những điều không có
trong sách vở. Chư Tổ đắc đạo mới có khả
năng làm cho vua chúa đương thời phải kính
nể, nên việc hành đạo của các Ngài thành
công rực rỡ, ghi lại dấu ấn vàng son cho
lịch sử Phật giáo nước nhà. Ngày nay, nếu
chúng ta áp dụng được điều này, chắc chắn
hành đạo sẽ không gặp khó khăn. Và Hòa
thượng còn dạy tôi rằng ở miền Bắc đang xây
dựng xã hội chủ nghĩa thì Thầy thuyết giảng
những gì không chống trái lại mới được và
muốn Phật giáo phát triển ở miền Bắc, ta nên
khuyến khích Phật tử làm tròn bổn phận công
dân là tăng gia sản xuất và chúng ta càng
làm được nhiều việc lợi ích cho xã hội càng
tốt.
Hoặc
muốn lên Tây Nguyên giáo hóa, chúng ta hỏi
thăm về đời sống đồng bào ở đó như thế nào,
đời sống kinh tế ra sao, để chúng ta có thể
thích nghi với hoàn cảnh sống nơi đó và
biết dạy người dân địa phương những gì họ
cần, tức cho những cái họ cần, không phải cứ
nhất định cho cái ta có là giáo lý. Giả sử
họ cần thức ăn, chúng ta cho họ thức ăn kèm
theo giáo lý; nhưng giáo lý đó không phải là
ta thuyết pháp như ở thành phố, mà giáo lý
này là thân giáo và ý giáo, tức tình thương
của chúng ta mới quan trọng. Nghĩa là chúng
ta bố thí, giúp đỡ thức ăn, vật dụng với tất
cả tấm lòng từ bi. Họ cảm tâm của chúng ta,
nên sanh ra tâm kính mến chư Tăng, kính
trọng đạo Phật và muốn tìm hiểu giáo lý; bấy
giờ, chúng ta mới giảng dạy giáo lý.
Hoặc về
miền Tây hành đạo, chúng ta hỏi thăm các sư
nào thành đạt nhất, cảm hóa được dân miền
Tây, chúng ta học theo. Ở miền Tây có đạo
Hòa Hảo phát triển song song với đạo Phật,
nhờ họ phổ biến những bài kinh bằng văn vần
lục bát dễ học, dễ hiểu, dễ chấp nhận. Các
sư về đó nên lưu ý điều này. Ngoài ra, chúng
ta phải thực tập cho được pháp đồng sự nhiếp,
không sống cách biệt với người dân địa
phương để chúng ta có thể chia sẻ được với
họ, mới dễ cảm hóa họ.
Trong
thời kỳ các vị Hòa thượng miền Trung đi theo
người di dân vào miền Nam, các Ngài sống với
họ và chỉ dạy họ phương cách sản xuất để
tăng năng suất cao và các Ngài cũng biết
chữa bệnh bằng cây thuốc. Phải nói lúc bấy
giờ, Phật giáo miền Nam phát triển không do giáo lý,
nhưng do các Hòa thượng làm thầy thuốc Đông
y rất giỏi, chữa khỏi bệnh cho dân chúng. Vì
vậy, họ kính phục, thương mến, mới tin theo
và phát tâm xây dựng từ chùa nhỏ đến chùa
lớn, khi đời sống của họ khá lên.
Trên
bước đường tu, tôi sang Nhật tham vấn một số
thiền sư và các vị tu pháp môn khác nhau,
tôi được các Ngài chỉ dạy rằng ăn uống ngủ
nghỉ như thế nào và tu làm sao để bảo đảm
được sức khỏe tốt, để làm việc không mệt mỏi.
Người tu mà không học kinh nghiệm của người
trước để phạm sai lầm, bệnh liên miên, thì
đạo quả không thành được. Tôi xin chia sẻ
một kinh nghiệm nhỏ, khi còn là Sa di, tôi
đọc giới không ăn chiều, và nghĩ rằng mình
thọ giới rồi, mà ăn chiều, nên trong lòng
cảm thấy bất an, tôi quyết định không ăn
chiều. Một thời gian sau, tôi bị đau bao tử
mãn tính, cảm thấy khó chịu và cũng khó tu.
Bác sĩ mới nói rằng muốn tu cũng cần có kiến
thức khoa học để bổ sung cho việc giữ gìn
sức khỏe. Ông nói tôi còn quá trẻ, cơ thể
đang phát triển nên cần chất dinh dưỡng rất
nhiều, mà lại tự hạn chế việc ăn uống, không
ăn chiều, sẽ thiếu chất dinh dưỡng trầm
trọng, coi chừng bệnh rồi chết. Không ăn
chiều, cảm thấy đói, vì dịch vị tiết ra để
tiêu hóa chất béo, nhưng không có chất béo
thì dịch vị sẽ gặm nhấm bao tử và phá hư bao
tử, làm cho bị đau lâm râm là vậy. Và khi
đói, nhìn thấy thức ăn, hay nghe mùi thức ăn,
nước miếng chảy ra, mà nước miếng có tác
dụng tiêu hóa tinh bột hay thức ăn nói chung.
Nước miếng tiết ra thì mình nuốt vô, nó cũng
sẽ bào mòn bao tử thêm nữa, làm cho đau hơn
nữa. Vì vậy, bác sĩ khuyên tôi phải ăn chiều,
không ăn, nhất định phải chết. Tôi mới hỏi
Hòa thượng Thiện Hòa việc này. Ngài dạy tôi
rằng cơm chiều là thuốc để chữa bệnh đói cho
mình và chữa bệnh bao tử. Còn đói là còn
bệnh, thì phải chữa và tự thấy mình có bệnh
nghiệp này, không bằng các thầy tu khác, nên
khi chúng ta ăn chiều, phải sanh tâm hổ thẹn
vì ăn để không bệnh, được mạnh khỏe để tiến
tu đạo hạnh, không phải tham ăn.
Tóm lại,
điều cơ bản nhất đối với tất cả chúng ta,
những người xuất gia tu hành chưa đắc quả Tu
đà hoàn, phải tập hợp an cư; nhờ đó, chúng
ta có thể học hỏi kinh nghiệm mà các vị tu
hành ở khắp mọi nơi đã trải qua, nay họ về
cùng tu với chúng ta. Thậm chí chúng ta cũng
có thể học được với những vị tu sĩ ở nước
ngoài về thăm quê hương trong ba tháng hạ,
học hỏi cách sống, cách hành đạo như thế nào
và họ đã làm được gì, để khi có duyên hành
đạo ở những nơi đó, chúng ta cũng đã có được
phần nào những kiến thức cần thiết giúp mình
được lợi lạc.
Chưa
đắc Thánh quả, chúng ta học hỏi những kinh
nghiệm sống bình thường với các pháp lữ đồng
tu, hoặc chia sẻ kinh nghiệm của mình cho họ.
Ngoài ra, điều thứ hai cao hơn là tập chúng
an cư, chúng ta được sống với những vị Tỳ
kheo có 5,10, 20, hoặc 30 tuổi hạ. Họ đã
trải qua quá trình tu hành dài lâu, nên có
được những sở đắc và cũng có cả những việc
thất bại. Chúng ta đảnh lễ để các Ngài
thương mà chỉ dạy cho chúng ta kinh nghiệm
tu hành rất quý báu mà các Ngài thiết thân
thể nghiệm, thậm chí có nhiều điều các Ngài
phải trả giá rất đắt trong cuộc đời tu mới
biết được. Chúng ta học kinh nghiệm tu hành
vô giá đó, chứ không phải học kinh nghiệm
sống bình thường, mới có thể khắc phục được
nội chướng lẫn chướng duyên bên ngoài, để
bảo vệ được giới thân huệ mạng của chính
mình.
Cầu
mong tất cả hành giả an cư học hỏi và thực
tập được nhiều điều lợi lạc cho việc thăng
hoa trí tuệ và đạo hạnh của mình, để sau ba
tháng, mang hành trang là Thánh tài vô tận,
trở về bổn xứ, cảm hóa được nhiều người cùng
làm việc tốt đẹp cho xã hội, lợi lạc cho đạo
pháp, xây dựng được Tịnh độ trên nhân gian
này.