NHỮNG ÐẶC ÐIỂM CỦA ÐỨC PHẬT

Thích Thông Huệ

---o0o---

  

 

LỜI TỰA

 

Viết về gương người tốt việc tốt, một nhà báo có thể làm thành một phóng sự xuất sắc, có tính giáo dục cao. Viết về một danh nhân lịch sử, một học giả có thể dựa vào các tài liệu khoa học mà thực hiện một đề tài nghiên cứu có tính thuyết phục, có giá trị lâu dài. Ðó là những tác phẩm mang tính khách quan, và ngòi bút của tác giả cứ từ các dữ kiện thực tế mà đưa lên trang giấy những hình ảnh sinh động.

Nhưng đối với Ðức Thích Ca Mâu-Ni, là một bậc vĩ nhân lịch sử của thế giới, Ðấng Giáo Chủ của hàng tứ chúng con Phật, Bậc Thầy của ba cõi chúng sinh, thì ngòi bút điêu luyện nào có thể diễn tả tường tận cuộc đời của Ngài, từ lúc Ðản sinh đến khi nhập diệt? Ngôn từ nào vẽ ra được hình tướng trang nghiêm đẹp đẽ, biểu hiện được tinh thần Bi-Trí-Dũng, ca tụng hết được công lao hoằng hóa lợi sinh của Ngài trong suốt bốn mươi lăm năm ròng rã?

Là con người, mấy ai không có tham sân si? Ðôi khi chỉ vì một chút quyền lợi, một chức vụ nhỏ nhoi, người ta đã nhẫn tâm giết hại nhau rồi. Thái tử Sĩ-Ðạt-Ta cũng là con người, sống trong uy quyền tột đỉnh, trong hạnh phúc gia đình đầm ấm, lại tự nguyện từ bỏ tất cả, sống cuộc đời Sa-môn khổ hạnh trong núi rừng, tìm đạo giải thoát. Sự hy sinh ấy há chẳng phải vô vùng cao cả hiếm hoi?

Suốt sáu năm thiết tha cầu đạo, hết học với các vị Tiên đến thực hành công phu khổ hạnh, quên cả thân xác đến nỗi hình hài chỉ còn da bọc lấy xương, Ngài vẫn không cô phụ lý tưởng đời mình. Lời thề sấm sét dưới cội Tất-bát-la thể hiện rõ một ý chí dũng mãnh, một nghị lực siêu phàm của Ngài. Dù trên đường tu mà Ngài không đạt mục đích tối hậu là giác ngộ và giải thoát sinh tử thì Ngài không chùn bước, chỉ riêng ý chí nghị lực ấy cũng đã khiến nhân loại phải cúi đầu!

Thế mà, sau khi tu thành đạo, Ngài đã tạo dựng cho mình những danh vọng quyền lực gì? Thông thường, chúng ta miệt mài làm việc học tập, chịu nếm trải muôn vàn đắng cay, chịu hy sinh hạnh phúc gia đình và cả tuổi thanh xuân của mình, cũng chỉ hy vọng có ngày thành công trong sự nghiệp; và lúc ấy, chúng ta sẽ được đền bù xứng đáng, về vật chất lẫn tinh thần. Chính niềm hy vọng ấy là động lực kích thích động viên ta cố gắng vượt qua mọi khó khăn gian khổ. Riêng đối với Ðức Phật, dù được người đời tôn xưng là Bậc Giác ngộ Viên mãn, là Ðấng Giáo chủ Thích-Ca Mâu-Ni, Ngài cũng vẫn sống cuộc đời vô cùng đạm bạc. Hình ảnh Ðức Phật dẫn đầu đoàn Tăng sĩ, đầu trần chân đất, vận áo nhuộm ôm bình bát, khất thực từng nhà trên đường về thành Ca-tỳ-la-vệ quê hương, thật trái ngược với bức tranh “vinh quy bái tổ” lộng lẫy hoành tráng của một vị Thái tử, theo tưởng tượng của vua cha và quần thần. Nhưng chính sự trái ngược giữa tưởng tượng và thực tế ấy càng làm nổi bật tư cách cao thượng và sự vĩ đại của một Bậc Giác ngộ đã thành tựu tinh thần vô ngã vị tha.

Trong cuộc đời hoằng hóa độ sinh, khó có thể tính được bao nhiêu đường đất Ngài đã đi, bao nhiêu nhà được Ngài gieo duyên bằng hạnh khất thực, bao nhiêu người được nghe những lời Ngài giáo hóa. Trong Tăng đoàn của Ngài, mọi người đều bình đẳng trong sinh hoạt, trong tu học và trong quả chứng. Chính Ngài đã làm một cuộc đại cách mạng khi triệt để xóa bỏ ý thức phân biệt giai cấp, mà biểu tượng đỉnh cao là sự đảnh lễ của một vị vua dòng Sát-đế-lợi trước một bậc A-la-hán xuất thân từ giai cấp mạt hạng Thủ-đà-la.

Có thể nói, ngày Ðản sinh (rằm tháng tư) và đêm Thành đạo (mùng tám tháng chạp) là hai dấu ấn quan trọng bậc nhất của cuộc đời Ðức Phật, và là hai ngày trọng đại nhất đối với những người con Phật chúng ta. Bởi vì nếu Bồ-tát Hộ Minh không thị hiện xuống cõi Ta-bà thì không có Thái tử Sĩ-Ðạt-Ta, không có ngày khởi đầu một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên của từ bi, trí tuệ và hùng lực - không có Ðức Phật, không có Pháp, cũng không có Tăng già. Như vậy, ngày Ðản sinh là dấu ấn thứ nhất bắt đầu cuộc đời Thái tử, và đêm Thành đạo là dấu ấn thứ hai của sự ra đời ba ngôi báu Phật – Pháp – Tăng trên thế gian này.

Ðã hai mươi lăm thế kỷ trôi qua, con người vẫn còn lăn lộn trong cuộc tử sinh. Ðâu đó vẫn còn hận thù chiến tranh. Chúng ta vẫn còn nhiều lúc giật mình khi biết nơi này nơi kia còn tàn sát nhau, hành hạ nhau không thương tiếc. Mây mù đang bao phủ bầu trời, và nhân loại đang từng ngày lo sợ những cái chết không báo trước. Tuy thế, một góc trời bình an hạnh phúc vẫn còn hiện hữu. Chỉ cần chúng ta tỉnh thức, lắng sâu tâm thức nghe bức thông điệp từ bi cứu khổ của Ðức Phật. Pháp âm vi diệu ấy vẫn vang vọng nếu ta chịu mở lòng ra đón nhận. Ánh giác ngộ ấy vẫn chói lọi nếu ta chịu quay lại soi sáng chính mình!

Chúng tôi không phải là nhà văn với khả năng sử dụng từ ngữ văn hoa chuẩn xác; cũng không phải nhà nghiên cứu với kiến thức uyên bác, với sự nghiên tầm công phu, lại viết về sự ra đời và sự thành đạo của một Bậc Ðại Thánh Vô thượng, thì quả là một việc làm quá sức chúng tôi, không khỏi lỗi lầm với những bậc thức giả. Nhưng vì lòng tôn kính biết ơn vô hạn đối với người đã hy sinh cả cuộc đời mình để chỉ dạy cho chúng sinh phương pháp thoát ly sinh tử; vì lòng tôn kính nhớ ơn vô biên đối với vị Cha lành nuôi lớn thân huệ mạng của mình; và vì tâm thành thiết tha muốn tất cả mọi người luôn nhớ về gương sáng của Ngài, nguyện đời đời đi theo con đường Ngài đã đi và đã đến đích; nên chúng tôi tập hợp những bài viết đã đăng trên một số tập san Phật giáo(*), làm thành quyển sách này. Nhưng vì là những bài viết cùng chủ đề, không sao tránh khỏi có nhiều chỗ trùng lập. Ðộc giả hãy thông cảm cho. Xin được xem đây như một nén tâm hương, kính dâng lên Ðức Từ phụ Bổn Sư nhân ngày Khánh Ðản.

Mong rằng tất cả chúng ta luôn được sống trong hào quang vô lượng của Ngài!

 

Thiền Thất Viên Giác

Ngày Phật Ðản – PL. 2548

THÍCH THÔNG HUỆ

 

 

 

Chương một. Ý NGHĨA PHẬT ÐẢN 

 

THÔNG ÐIỆP SỰ RA ÐỜI CỦA PHẬT

 

Vào ngày trăng tròn cách đây trên 25 thế kỷ, có một bậc vĩ nhân xuất hiện ở đời. Ngài sinh vào cung Vua Tịnh Phạn năm 563 trước Tây lịch. Ðó là thái tử Sĩ Ðạt Ta, sau thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Cuộc đời Ngài từ lúc đản sinh đến khi nhập diệt là một cuộc đời hết sức đẹp đẽ và có ý nghĩa. Ngài đã đi vào quá khứ, nhưng uy đức và trí tuệ của Ngài vẫn còn sống mãi với con người và cuộc đời. Hôm nay, nhân ngày Phật đản sinh, chúng ta cần ôn lại một đôi điều trong các Kinh điển Phật giáo để hiểu được ý nghĩa sự ra đời của Ðức Từ phụ. Từ đó, chúng ta nguyện noi gương Ngài, luôn tinh tấn trên bước đường tự lợi, lợi tha. Chúng ta đều biết, Hoàng Hậu Ma Gia hạ sinh Ngài tại vườn Lâm Tỳ Ni, trên đường về quê ngoại. Khi mới sinh ra, Ngài đi được bảy bước, mỗi bước có hoa sen nâng chân, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, Ngài đọc bài kệ như sau:

Thiên thượng Thiên hạ

Duy ngã độc tôn

Nhất thiết thế gian    

Sinh lão bệnh tử. 

 

Tạm dịch:

Trên trời và dưới trời

Chỉ có Ta trên hết

Tất cả trong thế gian 

Ðều Sinh lão bệnh tử.

Những hình ảnh trên đây mang nhiều ý nghĩa rất sâu mầu. Vì sao Thái tử Sĩ Ðạt Ta đi bảy bước mà không nhiều hơn hoặc ít hơn? Con số bảy nói lên điều gì? Về mặt thời gian, người ta thường cho là có ba thời: quá khứ, hiện tại, vị lai. Về không gian thì có bốn phương chính: Ðông, Tây, Nam, Bắc. Những quan niệm về thời gian và không gian, thật ra chỉ là con đẻ của vọng tưởng, không phải là lẽ thực. Cho nên, hình ảnh Thái tử đi bảy bước tượng trưng Ngài đã siêu vượt được thời gian và không gian, không còn bị ràng buộc trong những qui ước tương đối của con người.

Về hoa sen, tất cả Phật tử đều biết một đặc điểm rất tuyệt vời của nó, là mọc từ bùn nhơ mà vươn lên rồi tỏa hương thơm ngát. Hoa sen ở trong bùn mà không bị lấm bùn, không bị bùn nhơ làm ô nhiễm. Thái tử cũng như thế, sinh vào chốn trần lao để làm lợi ích cho chúng sinh nhưng không bị vướng mắc, nhiễm nhơ bởi bùn lầy ngũ dục.

Bài kệ bốn câu Ngài đọc đã làm một số người hiểu lầm. Ðạo Phật là đạo Vô ngã, vì sao vị Giáo chủ lại đề cao cái "Ta" của mình quá đáng như thế? Nếu đọc kỹ hai câu sau, chúng ta mới thấy cái nghĩa lý uyên áo trong đó. Tất cả chúng sinh, không ai thoát được bốn điều khổ não là Sanh, Già, Bệnh, Chết, dù ở cõi Chư Thiên (trên trời) hay cõi người (dưới trời). Chỉ riêng "Ta" là trên hết vì "Ta" đã thoát được sự ràng buộc này. Thử hỏi, tất cả những hình tướng của thế gian, có cái gì không chịu sự chi phối của lý vô thường? Có sanh thì có diệt, có hình tướng thì phải có hũy hoại, dù là thân hình có 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp của Thái tử. Vì thế, cái "Ta" ở đây dứt khoát không phải là cái ngã hữu hình hữu hoại của Ngài, mà chính là cái "Chơn Ngã". Ðó là Chơn-tâm, Phật tánh, là Bản-tâm-thanh-tịnh, là Phật-tri-kiến, là Tâm Viên-giác, là Bản-lai-diện-mục... Nó có vô số tên vì bản chất nó không có tên. Nó không có hình tướng nên không thể bị hũy diệt. Nó trùm khắp vạn hữu nên siêu việt cả không gian và thời gian. Tất cả mọi hàm linh đều có cái Ngã này, không ai hơn không ai kém. Phật đã nhận ra và sống viên mãn với nó nên Ngài thành Phật, còn chúng ta vì quên nó nên cứ mãi trôi lăn trong sanh tử luân hồi.

Hiểu được những điều này, chúng ta thấy mình được đôi phần an ủi. Nếu chúng ta ngồi trong tư thế thiền tọa, tâm an định không bị vọng tưởng lôi dẫn, thì rõ ràng ngay lúc ấy chúng ta cũng đang ngồi trên tòa sen. Nếu chúng ta đi từng bước thiền hành, tâm an trú trong giờ phút hiện tại mà không duyên theo các pháp, thì mọi bước đi của chúng ta cũng có hoa sen nâng chân. Và nếu chúng ta luôn luôn tinh tấn, gội rữa dần từng lớp bụi ngũ dục, ở ngay trong cuộc đời mà không bị nhiễm ô theo trần cảnh, thì một lúc nào đó, ánh trực giác đột nhiên bừng lên, bóng tối vô minh từ bao đời kiếp sẽ bị xua tan không còn dấu tích.

Trong Kinh A Hàm có câu: " Một chúng sinh duy nhất, một con người phi thường đã xuất hiện trên thế gian này, vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng bi mẫn, vì sự tốt đẹp, vì lợi ích và hạnh phúc cho Chư Thiên và loài người". Vì sao đức Phật được gọi là "một chúng sinh". Ở đây, chúng ta phải hiểu chữ "chúng sinh" theo nghĩa, các hình tướng do nhiều pháp hợp lại mà thành. Như vậy, thân tướng của Ðức Phật, dù đủ vẻ đẹp và tướng tốt, cũng là do tứ đại giả hợp mà thành, cũng bất tịnh và vô thường như mọi người. Do đó, Ngài cũng là con người, là chúng sinh, nhưng khác chúng ta ở chỗ, Ngài là một con người phi thường, một chúng sinh duy nhất. Bởi vì, Ngài là một chúng sinh không còn tham-sân-si, không còn lậu hoặc phiền não. Bởi vì, Ngài là một con người tuy sinh ra nơi chốn trần lao, nhưng tự tại với tất cả mọi cám dỗ của ngũ dục lục trần. Sự xuất hiện của Ðức Phật mục đích cao cả, là vì lợi ích và hạnh phúc cho Chư Thiên và loài người. Cuộc đời Ngài là một tấm gương sáng chói về sự quên mình để đem lại an lạc và chỉ bày chân lý tối thượng cho chúng sinh.

Kinh Pháp Cú 193, Phật dạy: "Khó gặp được Như Lai, không phải đâu cũng có, chỗ nào Phật đản sinh, nơi đó tất an lạc". Nếu cho rằng Như Lai là Ðức Phật có 32 tướng tốt, gọi là Như Lai xuất thế, thì quả thật rất khó gặp. Ðức Phật Thích Ca ở Ấn Ðộ đã nhập diệt trên 2.500 năm, đến nay chúng ta vẫn chưa thấy có một vị Phật nào khác ra đời. Nhưng nếu hiểu theo tinh thần Kinh Kim Cang, Như Lai tức không từ đâu đến cũng không đi về đâu, nghĩa là phi sắc phi tướng, vô hình vô vật, thì khi chúng ta tọa thiền, tâm lặng lẽ mà hằng tri, thì khi ấy Như Lai đã hiện tiền. Một niệm tỉnh giác thì Ðức Phật ra đời, vì Phật là Giác. Một niệm điên đảo chạy theo trần cảnh thì Ðức Phật nhập diệt. Khi Như Lai tự tâm đản sanh, nghĩa là lúc tâm an định sáng suốt thì rõ ràng nơi ấy tức khắc được an lạc.

Trong Kinh Pháp Cú 182: " Ðược sinh ra làm người đã là khó. Ðược sống còn lại khó hơn. Ðược nghe chánh pháp là khó. Ðược gặp Ðức Phật ra đời là rất khó". Quả thật, được làm thân người là khó, vì ngoài thế giới loài người gồm 4 châu nhân gian, còn có các cõi khác như địa ngục, ngạ quỷ ... Nhưng cái khó ở đây là khó phát tâm tu hành, vì thường thì những nơi quá sung sướng (như cõi trời) hoặc quá khổ sở (như địa ngục), chúng sinh ít có điều kiện được nhắc nhở để tiến tu. Còn cõi người thì không quá sung sướng mà cũng không quá khổ cực, nhiều khi gặp những thăng trầm trong cuộc sống hay đau khổ mất mát, đó là những cơ hội để con người thấy rõ lý vô thường hay lý nhân quả, từ đó nguyện theo con đường Phật dạy.

Trong bốn cái khó ở trên, được gặp Phật ra đời là khó nhất. Trong một thế giới, không bao giờ có hai vị Phật xuất hiện đồng thời. Chỉ khi nào giáo pháp của vị Phật trước đã hết lưu truyền, thì vị Phật sau mới ra đời. Hiện nay, dù đang trong thời mạt pháp, chúng ta không tận mắt thấy được Ứùng hóa thân của Phật, nhưng chúng ta vẫn còn nghe chánh pháp, vẫn còn chiêm ngưỡng được dung nhan của Ngài qua hình tượng. Cho nên, nếu có ai tự xưng là Phật, giảng pháp cho người khác, hoặc phao tin sắp có Hội Long Hoa, Phật Di Lặc ra đời..., thì đó chỉ là những lời dối trá, mê hoặc người đời, nhằm phục vụ cho một ý đồ đen tối nào đó.

Sự thị hiện của Ứùng hóa thân Phật trên cõi đời là một sự kiện hiếm gặp, là điều vị tằng hữu (chưa từng có). Nhưng chúng ta có khi nào tự hỏi, Ngài xuất hiện trên đời để làm gì? Trong Kinh Pháp Hoa, Phật dạy: "Chư Phật xuất hiện ở đời chỉ vì một đại sự nhân duyên: Khai thị cho chúng sinh ngộ nhập Phật tri kiến". Bản hoài của Chư Phật mười phương là muốn chỉ cho chúng sinh thấy, ai cũng có tri-kiến- Phật, tức Phật tánh như nhau, bình đẳng không khác. Từ đó sẽ nhận ra và hằng sống với Phật tánh của chính mình một cách viên mãn.

Kinh Phạm Võng, Trường Bộ tập I, Phật dạy rằng: "Này các Tỳ kheo! Thân của Như Lai còn tồn tại, nhưng cái khiến đưa đến một đời sống khác đã bị chặt đứt. Khi thân của Như Lai còn tồn tại, thì Chư Thiên và loài người có thể thấy thân ấy. Khi thân hoại mạng chung, thì Chư Thiên và loài người không thể thấy được". Khi Ðức Phật còn tại thế, thân 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp của Ngài là một điều kiện tốt để dễ gần và dễ giáo hóa những chúng sinh căn cơ thấp kém. Vì chìu uốn theo tánh dục của chúng sinh nên Ngài phải thị hiện sắc thân như thế. Nhưng dù thân ấy còn tồn tại, mà cái nghiệp lực thúc đẩy thọ lãnh thân sau đã không còn. Chính lòng ái dục đã tạo dòng nghiệp lực khiến đưa đến một đời sống khác, với chánh báo và y báo tương ứng. Ứng hóa thân của Phật, vì có hình tướng nên Chư Thiên và loài người có thể thấy được. Khi thân ấy đã hoại, Ðức Phật trở về với pháp thân vô tướng nên không ai có thể thấy được Ngài. Tất cả chúng ta cũng đều có pháp thân vô tướng như thế. Vấn đề ở chỗ chúng ta có nhận ra không, và tu hành cách nào để sống được với chân thân, miên mật từng phút giây.

Chúng ta đã xét qua một số ý nghĩa về sự đản sinh của Ðức Phật, để thấy rõ rằng, sự xuất hiện của Ðức Thế Tôn, vị Giáo chủ của chúng ta, là một việc hy hữu ở đời. Cứ mỗi lần mùa Khánh Ðản đến, người Phật tử về chùa, nghe quý Thầy nhắc lại về cuộc đời và những đức tính cao đẹp của Ngài, chúng ta mới biết rằng, Ngài cũng đã trải qua vô lượng kiếp tu hành, cuối cùng mới thị hiện là Thái tử Sĩ Ðạt Ta ở Ấn Ðộ, sau thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Ngài là một bậc vĩ nhân, đã để lại một hình ảnh không bao giờ phai mờ trong lòng những người con Phật khắp năm châu bốn biển. Vì cuộc đời Ngài quá vĩ đại và đẹp đẽ, nên từ xưa đến nay, biết bao người đã dùng mọi hình thức văn hóa để ca tụng cái toàn chân, toàn thiện, toàn mỹ của Ngài. Biết bao người đã nguyện theo gương Ngài, quên mình để phụng sự chúng sinh, hy sinh hạnh phúc riêng tư để lo cho hạnh phúc của nhiều người. Những sứ giả của Như Lai đã mang thông điệp của Ðức Phật đi vào cuộc đời, làm cho con người hiểu được bản chất của kiếp sống là vô thường, là đau khổ, từ đó thúc giục con người sớm theo lời dạy nơi Ngài tu hành để được giác ngộ và giải thoát.

Hôm nay, một lần nữa kỷ niệm ngày Phật đản, chúng ta đem hết tâm thành quy ngưỡng và đảnh lễ Ngài. Chúng ta thấy mình rất có phước duyên nên mới được làm người, được thấm nhuần dòng sữa pháp, được Chư Tăng Ni hướng dẫn tu hành, được làm bạn đạo cùng những người hiền thiện. Chúng ta nguyện nhớ mãi hình ảnh Ngài bước trên hoa sen khi mới ra đời, để bắt chước Ngài cũng bước từng bước an lạc, thảnh thơi trên những bất ổn của cuộc sống. Thân ngũ uẩn của chúng ta tuy ở trong trần thế, nhưng phải biết vươn lên, không để bùn nhơ của ngũ dục làm ô nhiễm. Từ đó, chúng ta sẽ góp phần thổi một luồng sinh khí mới vào cuộc đời, khiến mọi người cũng được an lạc và hạnh phúc. Ðây là cách duy nhất để đền đáp ơn khó đền của Ðức Bổn Sư vô cùng quý kính của chúng ta.

 
 

ÐÔI ÐIỀU SUY NGHIỆM NHÂN NGÀY KHÁNH ÐẢN

                                                           

Một lần nữa, ngày kỷ niệm Ðức Phật đản sinh lại về trên toàn thế giới. Trong không khí tưng bừng của ngày hội lớn này, những người con Phật chúng ta hãy suy gẫm đôi điều về sự xuất hiện của Ðức Bổn Sư. Từ đó, chúng ta có thể rút ra những bài học quý giá, cần thiết cho cuộc sống thường nhật và cho bước đường tu hành.

Hội nghị Tôn giáo thế giới lần thứ tư, tổ chức tại Népal, đã chính thức công nhận vườn Lâm-Tỳ-Ni là nơi Ðức Phật Thích Ca đản sinh. Vị Giáo chủ của chúng ta là một nhân vật lịch sử, ra đời cách đây hơn hai mươi lăm thế kỷ, và vườn Lâm-Tỳ-Ni trở thành một Thánh tích. Tuy Ngài là người của nước Ấn Ðộ, nhưng lời dạy của Ngài - những chân lý vượt thời gian và không gian, giờ đây đã lan truyền khắp hành tinh, mang tính hòa bình, xây dựng và đem lại hạnh phúc đích thực cho con người.

Kinh Trung Bộ tập I, Phật dạy: "Này Xá Lợi Phất! Những ai nói một cách chân chính về Như Lai, sẽ nói như vầy: Một hữu tình không bị si chi phối, đã sinh ở đời vì lợi ích, vì hạnh phúc của chúng sinh; vì lòng thương tưởng cho đời; vì lợi ích an lạc và hạnh phúc cho chư thiên và loài người". Vì sao Ðức Phật là một hữu tình không bị si chi phối? - Ðức Phật xa xưa cũng là một chúng sinh hữu tình, cũng từng vô minh tạo nghiệp, quay cuồng trong vòng luân hồi sinh tử. Nhưng Ngài cũng đã trải qua vô lượng kiếp tu hành, nên trong kiếp cuối cùng này, Ngài không còn si mê nữa. Sự ra đời của Ngài tại Ấn Ðộ là một sự thị hiện, vì lợi lạc cho muôn loài chúng sinh, nên đáng để chư Thiên và loài người ca ngợi tán thán.

Trong lịch sử tồn tại và phát triển của mình, loài người đã đạt được một tầm cao về khoa học kỹ thuật, cho phép đi sâu vào những bí ẩn của vũ trụ và cơ thể con người. Nhưng bên cạnh trình độ cao của nền văn minh vật chất, nhân loại đang bị đe dọa bởi bạo lực và chiến tranh - không những là chiến tranh sắc tộc hay tranh chấp lãnh thổ, mà còn nhân danh tôn giáo để tiến hành những cuộc Thánh chiến đẫm máu. Trong suốt thế kỷ vừa qua, hành tinh chúng ta đã mang biết bao thương tích vì hai trận thế chiến ở nữa đầu thế kỷ, cùng vô số cuộc xung đột vũ trang và chiến tranh hũy diệt trên quy mô lớn sau này. Và do những bất hạnh, những khổ đau triền miên đó, con người đã hướng về Ðạo Phật, đến với giáo lý Phật Ðà, như đứa con mang thân xác gầy mòn tiều tụy về nằm trong chiếc nôi êm của mẹ hiền. Thật vậy, Ðạo Phật là đạo từ bi, ban vui và cứu khổ. Những người con Phật không bao giờ mượn danh vị Giáo chủ của mình để truyền đạo bằng bạo lực, bằng binh quyền. Ðạo Phật cũng không bao giờ chủ trương bắt buộc người khác phải theo đạo mình. Bởi vì, như đã dẫn, Ðức Phật ra đời vì an lạc hạnh phúc cho muôn loài chúng sinh, vì muốn loài người được giác ngộ và giải thoát khỏi khổ đau và sinh tử luân hồi.

Trong thời Ðức Phật, xã hội Ấn Ðộ được chia thành bốn giai cấp, trong đó có hai giai cấp thống trị là Bà-la-môn lãnh đạo về tinh thần, và Sát-đế-lợi có sức mạnh binh quyền, đứng đầu về chính trị xã hội. Giai cấp thấp hèn nhất là Thủ-đà-la, bị chà đạp bóc lột, không còn có quyền làm người nữa. Chính Ðức Phật, như một nhà đại cách mạng, đã dõng dạc tuyên bố: "Không có giai cấp khi mọi dòng máu cùng đỏ, không có giai cấp khi mọi nước mắt cùng mặn". Bằng trí tuệ siêu xuất, Ngài thấy tất cả chúng sinh - kể cả chúng sinh hạ đẳng, đều có Phật tánh như nhau. Vì vậy, bức thông điệp của Ngài trao truyền cho xã hội đương thời và cho muôn thế hệ về sau, mang tính bình đẳng và tính tự do tuyệt đối, cũng như trả lại cho con người quyền làm chủ thực sự đối với vận mệnh của chính mình.

Vì sao nói Ðạo Phật có tính bình đẳng tuyệt đối? - Chúng ta biết Ðức Phật chủ trương không phân biệt giai cấp và giới tính. Trong Tăng đoàn của Ngài, nhiều vị thuộc giai cấp Thủ-đà-la hoặc nữ giới được xuất gia. Ðây là bình đẳng về xã hội, chỉ có tính cách tương đối. Ðỉnh cao nhất của sự bình đẳng, là mọi người đều ngang nhau khi thọ lãnh nghiệp báo hoặc khi tu thành đạo quả. Phàm phu chúng ta, nếu tạo nghiệp ác thì bị đọa vào ba đường khổ, nếu tạo nghiệp thiện sẽ được tái sinh về các cõi lành. Ðức Phật và chư vị Tổ sư, dù đã đắc đạo nhưng nếu còn dư báo, cũng phải trả cho xong: Phật bị nạn kim thương mã mạch, Tổ Sư Tử bị chặt đầu, Tổ Huệ Khả chết trong nhà ngục... đó là bình đẳng đối với nghiệp báo. Nhưng nếu phàm phu nghe lời Phật dạy, tinh tấn tu hành đúng đường đúng hướng, thì có ngày cũng thành Phật như Ngài. Có thể nói, chỉ có vị Giáo chủ của Ðạo Phật mới đặt mình ngang hàng với tất cả chúng sinh - vì đây là cái thấy như thật của một người đã thực sự giác ngộ.

Mặt khác, Ðức Phật đã dạy rõ cho chúng ta về lý nhân quả, với hai cặp phạm trù nhân quả thế gian và xuất thế gian (Khổ - Tập, Diệt - Ðạo). Ðể phù hợp với trình độ căn cơ, Ngài cũng phương tiện dạy về Ngũ thừa và phương pháp tu hành tương ứng (tu Nhơn thừa phải giữ năm giới, tu Thiên thừa là hành Thập thiện...). Tất cả chúng ta đều có quyền tự do lựa chọn con đường mình đi, tự do tạo nghiệp và tự do thọ lãnh quả báo. Nếu thấy được cái khổ tột cùng nhất chính là cái khổ luân hồi, không muốn trầm luân sinh tử nữa, chúng ta cũng có quyền lựa chọn pháp môn thích hợp để đạt mục đích cuối cùng là giải thoát. Ðây há chẳng phải là sự tự do tột đỉnh, tự do tuyệt đối sao?

Từ năm 1948, thế giới lấy ngày 10/12 làm ngày Quốc tế Nhân quyền, và hô hào tất cả các nước hãy "Trả thế giới con người, những quan hệ của con người về với bản thân con người". Nhưng thật ra, ở nơi này nơi khác vẫn còn đầy dẫy những áp bức bất công, đầy dẫy sự kỳ thị chủng tộc - quốc gia - tôn giáo. Chỉ riêng Ðức Phật ngay trong thời đại văn minh chưa phát triển, con người còn mê tín theo những giáo thuyết thần quyền, Ngài đã bảo mình không phải là thần linh để có quyền ban phước giáng họa cho ai. Trong suốt cuộc đời, Ngài cũng nói năng sinh hoạt như mọi người, cũng tọa thiền khất thực như các đệ tử của Ngài. Ðức Phật là một con người bình thường, nhưng khác chúng ta ở chỗ không còn bị tham-sân-si chi phối, nên trong cái bình thường ấy chứa đựng cái phi thường. Ngài luôn đề cao tư cách con người, luôn dạy con người phải tự mình tìm sự giải thoát ngay trong chính mình chứ không mong cầu ở tha lực. Vì thế, Ðạo Phật đã trả về cho con người quyền làm người chân chính nhất.

Sự kiện Ðức Phật đản sinh được xem là điều chưa từng có; không những hy hữu về thời và xứ, còn là hy hữu về đức và sự. Hy hữu thời là rất hiếm được sinh ra cùng thời với Phật; hy hữu xứ là khó thể ở cùng nơi để chiêm ngưỡng kim thân của Ngài. Ngài có vô lượng phước đức và vô lượng trí huệ, nên gặp được người như Ngài là điều hiếm có - đó là hy hữu đức. Lại nữa, sự nghiệp hoằng hóa độ sanh của Ngài trong vô lượng kiếp tu hành thật không thể nghĩ bàn, tất cả chư vị Bồ tát hay Hiền Thánh Tăng đều không sánh kịp, vì vậy ta gọi là hy hữu sự.

Một hình ảnh độc đáo trong quang cảnh ra đời của Ðức Phật, là bảy bước đi nở bảy đóa sen. Ở đây, chúng ta không bàn về vấn đề thực hay hư của sự kiện, mà chỉ đề cập đến ý nghĩa sâu xa của nó. Phật dạy: "Như hoa sen tươi đẹp và dễ thương, không nhiễm ô bùn nhơ nước đục, giữa chốn bụi trần ta không nhiễm chút bợn nhơ, như vậy ta là Phật". Hoa sen tươi đẹp thanh khiết, tỏa hương thơm ngát đã có gốc rễ từ đâu? Nếu không có bùn nhơ nước đục sen không nẩy mầm, tăng trưởng rồi trổ hoa như thế. Thái tử Sĩ -Ðạt- Ta sinh ra trong hoàng cung, hưởng tất cả lạc thú thế gian, nhưng Ngài đã bỏ lại sau lưng để một mình đi tìm chân lý. Sống trong ngũ dục nhưng Ngài không tham đắm, luôn luôn canh cánh trong lòng ba câu hỏi lớn: Con người từ đâu sinh ra? - Sau khi chết đi về đâu?- Có cách nào giải thoát khỏi luân hồi sinh tử? Ngài mang thân phận làm người, giữa chốn bụi trần mà không bị nhiễm ô, khác nào hoa sen trong bùn mà không hôi tanh mùi bùn. Lịch sử Phật giáo có rất nhiều hoa sen ngát hương như thế: Tướng quốc Bùi Hưu và Bàng Long Uẩn ở Trung Hoa, Sơ Tổ Trúc Lâm và Tuệ Trung Thượng Sĩ của Việt Nam. Dù là cư sĩ hay người xuất gia, đều tìm được hạnh phúc đích thực từ mãnh đất phiền não nhiễm nhơ của cuộc đời.

Từng bước đi nở hoa sen là biểu tượng của những bước chân vững chãi và thảnh thơi trong cuộc đời. Ðây là bí quyết của những hành giả tu Phật. Muốn thành bậc xuất trần, phải ngay từ trần tục mà vươn lên. Người có sức mạnh tu hành là người luôn thắng được những khó khăn trở ngại đến từ bên ngoài và cả bên trong nội tâm của chính mình. Tu không phải là trốn chạy các pháp mà là trực diện với chúng, nhưng tâm không dính mắc khi đối duyên xúc cảnh - Ðối cảnh vô tâm mạc vấn thiền. Khi tiếp xúc với trần cảnh mà tâm không khởi niệm phân biệt hay - dở, tốt - xấu, ưa - ghét ..., ngay đó đã là Thiền, không cần hỏi Thiền chi nữa. Hiểu được như vậy, chúng ta mới thấu triệt được tinh thần của Ðại thừa Phật giáo, ngay trong vô thường mà thấy cái hằng hữu, ngay trong khổ đau mà chứng được Bồ đề.

Một biểu tượng khác của hoa sen thường được đề cập đến trong nhà Thiền, là sen nở hoa trong lò lửa. Chúng ta có tin được điều này không? Xin hãy nghe bài kệ:

Thấm thoát thu qua mấy độ rồi

Ðời người bóng chớp áng mây trôi

Muôn vật hiện bày trò ảo hóa

Sen nở trong lò sắc thường tươi.

 

Trong lò lửa vô thường của thân tứ đại, có một đóa sen luôn luôn tươi tốt. Ðóa sen ấy là Diệu Pháp Liên Hoa. Ðây cũng là ý nghĩa của cành mai không bao giờ tàn, mà Thiền sư Mãn-Giác đã nhìn thấy. Hoa sen hay cành mai ấy là chân tâm, là Phật tánh của mỗi chúng sinh. Tuy chúng sinh ở trong cảnh giới vô thường, mang thân vô thường, tâm nghĩ tưởng cũng vô thường, nhưng pháp thân không bao giờ biến hoại theo thời gian vô cùng và không gian vô biên. Người tu chúng ta phải nhận được chân tâm bất sinh, bất diệt trong ngũ uẩn sinh diệt và luôn sống với nó - đó là mục đích cuối cùng của mỗi người tu Phật.

Có khi nào chúng ta tự hỏi: Ðức Phật xuất hiện nơi đời là vì bản thân Ngài hay vì chúng sinh? Và vì sao trong suốt 45 năm hoằng pháp, tựu trung Ngài chỉ nói về khổ và phương pháp thoát khổ? - Bản hoài của chư Phật là chỉ cho tất cả chúng sinh nhận ra và sống được với bản lai Phật tánh của chính mình. Do vậy, Ðức Thích-Ca thị hiện trên thế gian này là vì chúng sinh, muốn chúng sinh cũng được giác ngộ giải thoát như Ngài. Nhưng bởi chúng sinh còn vô minh, nhận lầm cái giả cho là thật, cái khổ cho là vui, cái không có chủ thể cho là ngã, cái nhiễm nhơ cho là thanh tịnh, nên Ngài phải giúp chúng ta ý thức được cuộc đời là khổ não vô thường. Một người luôn luôn sống trong cảnh sung sướng giàu sang, mọi việc đều thành tựu như mong cầu, thì khó tu và khó tiến. Nếu gặp việc bất như ý hay đau khổ trong đời sống, ta mới dễ thức tỉnh, dễ đến với Ðạo. Có thể nói, khổ đau là chất liệu nung nấu người tu tìm cách thoát khổ, là điều kiện cần thiết để một hành giả thăng tiến đạo lực, vì đạo lực chỉ biểu hiện nơi cảnh thử thách truân chuyên, cũng như bùn nhơ nước đục là điều kiện cần để hoa sen nở và tỏa hương thơm ngát.

Nhân ngày Khánh đản, chúng ta suy nghiệm lại một số điều mà Ðức Phật muốn truyền trao, bằng thân và khẩu giáo. Ðặc biệt, chúng ta học nơi Ngài tình thương bao la, trí huệ siêu xuất và ý chí phi thường. Có tình thương bao la tức đại bi, Ngài đã thị hiện vào các cõi tế độ quần sinh. Do giác ngộ tột cùng nên Ngài có đại trí tức trí vô sư, thấu triệt được thực tướng của tất cả pháp và thể nhập chân tâm thường trụ; từ đó khởi phát diệu dụng, thiết lập phương tiện giáo hóa người hữu duyên. Do ý chí phi thường tức đại hùng, Ngài đã chiến thắng những chướng ngại nội tâm cũng như những thử thách bên ngoài mà thành tựu đạo quả.

Chúng ta cũng thệ nguyện thừa hưởng pháp âm vi diệu của Ngài, vun bồi lý tưởng giải thoát để cuộc sống thăng hoa, để lòng từ mở rộng. Chúng ta cố gắng tu tập theo Ngài để cuộc đời mình có nhiều lợi ích, nhiều ý nghĩa; và trang trải kết quả ấy cho những người xung quanh cũng được lợi ích như mình. Ðó là cách cúng dường Ðức Bổn Sư thiết thực nhất.

 

 ÐỨC PHẬT CỦA CHÚNG TA

 

Ngày Phật đản được xem như ngày tết của Phật giáo, vì đánh dấu thời điểm trọng đại một bậc vĩ nhân ra đời vì lợi ích cho nhân loại nói riêng và cho chúng sinh trong toàn pháp giới nói chung. Cuộc đời của Ðức Bổn Sư, từ khi sinh ra đến khi nhập diệt, đều thể hiện tính cách kỳ vĩ siêu tục có một không hai. Cho đến bây giờ, dù đã trải qua 25 thế kỷ, trí tuệ và lòng từ bi của Ngài vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm đến cuộc đời, và là tấm gương sáng chói cho tất cả mọi người con Phật.

Kinh kể rằng, Ðức Bổn Sư của chúng ta vốn là một vị Ðại Bồ-tát ở nội viện cung trời Ðâu Suất. Ngài chỉ sinh vào cõi Ta-bà một lần cuối cùng là thành tựu quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nên được tôn là Bồ-tát Nhất sanh Bổ xứ. Trước khi nhập thai, Ngài quan sát khắp cõi Diêm-phù-đề, thấy nước Ấn Ðộ là trung tâm, và Vương quốc Ca-tỳ-la-vệ là nơi cường thịnh nhất. Vua Tịnh-Phạn và Hoàng Hậu Ma-Gia là những người đạo đức, có duyên với Ngài từ nhiều đời. Trong Vương quốc, phần đông dân chúng được thuần hóa, những ngành Triết học rất thịnh hành. Vì thế, Ngài chọn hoàn cảnh trên làm y báo.

Gần đến ngày sinh, Hoàng hậu Ma-Gia theo tục lệ trở về quê mẹ. Ðến vườn Lâm-Tỳ-Ni, bà hạ lệnh nghỉ chân. Thấy trên cành cây vô ưu có một nụ hoa vừa nở, bà đưa tay lên hái. Ngay lúc đó, Thái tử từ hông phải của bà sinh ra. Vừa mới ra đời, Thái tử đã đi bảy bước, có bảy hoa sen nâng chân. Một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, Ngài đọc bài kệ như sau:

 

Ngã ư nhất thiết

Thiên nhân chi trung

Tối tôn tối thắng.

Vô lượng sinh tử

Ư kim tận hỉ.

Tạm dịch:

Ta đối với tất cả

Chư Thiên và loài người

Là tối tôn tối thắng.

Qua vô lượng sinh tử

Kiếp này là chấm dứt.

 

Một bài kệ khác thường được truyền tụng hơn:

 

Thiên thượng thiên hạ

Duy ngã độc tôn

Nhất thiết thế gian

Sinh lão bệnh tử.

Tạm dịch:

 

Trên trời dưới trời

Chỉ Ta trên hết

Tất cả thế gian

Sinh lão bệnh tử.

Những sự kiện phi khoa học nầy khiến chúng ta khó thể chấp nhận; và nếu không hiểu ý nghĩa sâu xa của huyền thoại Ðản sinh, ta dễ cho đó là dị đoan mê tín.

Người xưa có câu “Lưu danh thiên cổ, lưu xú vạn niên” (Ðể lại tiếng thơm ngàn đời, để lại tiếng xấu muôn năm). Ðối với những bậc vĩ nhân có công lớn với đất nước, lịch sử luôn luôn ca ngợi và trong dân gian cũng có nhiều truyền thuyết về cuộc đời của các Ngài. Ðây là biểu hiện lòng tôn kính ngưỡng vọng của người đời, phù hợp với tinh thần Ðông phương ưa sự mầu nhiệm huyền bí, khác với tính thực tế của Tây Phương, thường đánh giá sự việc bằng thước đo khoa học. Ðức Phật là bậc vĩ nhân đệ nhất trong lịch sử, truyền thuyết về Ngài đã nói lên phần nào sự tôn sùng kính ngưỡng của các hàng môn đệ.

Mặt khác, huyền thoại Ðản sinh của Ðức Phật còn có ý nghĩa tượng trưng sâu xa. Vì Ngài đã là vị Ðại Bồ-tát trước khi thị hiện xuống cõi Ta-bà, nên Ngài không sinh theo lối thông thường mà sinh từ hông phải của hoàng hậu Ma-Gia. Bên phải tượng trưng sự thuận chiều, tức thuận chiều Niết-bàn và nghịch chiều sinh tử. Ngài không bị cuốn vào vòng xoáy luân hồi mà vượt thoát, và độ nhiều người cùng vượt thoát như Ngài. “Phương pháp nào giúp con người thoát ly sinh tử?” là vấn nạn lớn nhất của kiếp người, nhưng chỉ có Ngài biết đặt ra và biết cách trả lời thỏa đáng.

Bảy bước đi của Thái tử lúc mới hạ sinh tượng trưng ba yếu tố thời gian (quá khứ – hiện tại – vị lai) và bốn chiều không gian (đông tây nam bắc). Một người tự tại giữa dòng sinh tử sẽ không bị chi phối bởi thời gian vô cùng và không gian vô biên. Hoa sen nở dưới gót chân Thái tử biểu tượng sự trong sạch giữa cuộc đời, sống trong trần mà không nhiễm trước, như hoa sen mọc giữa bùn lầy mà vẫn nở hoa thơm.

Thật ra, những câu chuyện thần kỳ về Ðức Phật được truyền tụng bao đời nay, ngẫm lại vẫn chưa tương xứng với phẩm chất cao quý, với công hạnh độ sanh của Ngài. “Xưng dương cập tán thán, ức kiếp mạc năng tận”. Dù xưng tán trong trăm ngàn ức kiếp, chúng ta cũng không thể nói hết sự vĩ đại siêu tuyệt của cuộc đời Ngài. Ngay sự thị hiện bằng thân 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp cũng có tính cách giáo hóa – vừa nói lên công đức tu hành trong vô lượng kiếp của một bậc Ðại Thánh, vừa chiều uốn theo sự ưa thích cái đẹp của chúng sinh để dễ bề tiếp cận dạy bảo họ. Ngài cũng có một cuộc sống thế tục trước khi xuất gia, cũng có những sinh hoạt bình thường như mọi người, khiến ai cũng thấy Ngài vô cùng gần gũi ; từ đó phát khởi lòng tin mình cũng có khả năng tu hành và thành đạo như Ngài.

Một người có thân tướng đẹp đẽ hiếm thấy, có cuộc sống cao sang tột bực, có hạnh phúc gia đình hoàn mỹ, vì sao lại từ bỏ tất cả, sống đời cô độc khổ hạnh trong rừng già? Ðối với chúng ta, chỉ từ bỏ chút ít tài sản hay quyền lợi nhỏ nhoi để theo đuổi một mục đích, đã là việc khó làm. Và khi làm được điều ấy, ta lại mong thụ hưởng kết quả, mong cho bản thân mình và người xung quanh có một ngày mai tươi sáng hơn hôm nay. Chỉ riêng Ðức Phật nhận chân cuộc đời và con người đều là những thứ giả tạm nay còn mai mất, nên với ý chí xuất trần, Ngài nỗ lực đi tìm lẽ thật tuyệt đối, cái chân thường hằng hữu trong các pháp giả hợp vô thường. Sau khi đạt được ý nguyện, trở thành vị Giáo chủ mà Trời người đều kính ngưỡng, Ngài vẫn bình đẳng với tất cả mọi người trong một cuộc sống vô cùng giản dị. Ðôi chân trần đưa Ngài đi khắp nơi, gieo duyên và hóa độ cho biết bao người, trong suốt 45 năm ròng không hề mệt mỏi. Ðến giờ phút cuối cùng, Ngài vẫn còn thiết tha nhắc nhở việc tu hành cho môn đệ. Những chân lý Ngài đã thấy, những phương pháp hành trì thoát ly sinh tử, Ngài đều chỉ dạy tường tận, không hề giấu giếm chút gì, vì thế ta tôn xưng Ngài là Bậc Giác hạnh viên mãn. “Viên mãn” không có nghĩa Ngài đã độ tất cả chúng sinh, không có nghĩa tất cả môn đệ của Ngài đều thành tựu quả vị tối thắng. “Viên mãn” chỉ có nghĩa, giáo pháp của Ngài là rốt ráo cao tột, những điều cần dạy Ngài đã dạy hết, Ngài không để lại điều gì bí mật cho riêng mình. Ai tuân theo lời Ngài chỉ dạy, đi đúng con đường Ngài đi, chắc chắn sẽ đạt kết quả như Ngài.

Một người kinh doanh, trước tiên phải có vốn đầu tư. Người muốn có một học vị, phải trang bị vốn kiến thức tương xứng về lĩnh vực chuyên môn. Ðối với người Phật tử, muốn đạt mục tiêu Giác ngộ – Giải thoát, trước hết phải có lòng tin đối với Tam bảo. Chúng ta tin Ðức Phật là Bậc Toàn giác, là vị cha lành với trí tuệ, từ bi và hùng lực siêu xuất đáng cho ta tin phục kính ngưỡng. Chúng ta tin Pháp là những lời Ðức Phật tuyên thuyết, là thuyền bè đưa ta qua sông sinh tử, là ngọn đuốc soi đường trong đêm tối vô minh. Chúng ta tin chư Tăng là những người thay Phật lưu truyền chánh pháp. Tuy chư Tăng chưa giác ngộ bằng Ðức Phật, nhưng các vị nhận trọng trách trung gian giữa Ðức Phật và chúng sinh nên là “Sứ giả Như-Lai”; các vị thắp sáng đuốc tuệ, làm chánh pháp mãi mãi trường tồn, nên được tôn xưng là Tăng bảo – một trong ba ngôi báu. Nếu chúng ta không có niềm tin sâu xa đối với Tam bảo, ta không chịu khó nghiên cứu giáo lý, không tu hành theo chánh pháp, dễ bị lôi cuốn bởi ngũ dục lục trần, đường tu có thể rơi vào những ngã rẽ đáng tiếc. Do vậy, có thể nói, niềm tin Tam bảo là một trong những điều kiện quan trọng bậc nhất của người Phật tử.

Ðức Phật đã nhập diệt, thân 32 tướng tốt không còn nữa, nhưng ánh giác của Ngài vẫn soi sáng, pháp âm vi diệu của Ngài vẫn vang vọng và ngày càng ảnh hưởng mạnh mẽ đến toàn nhân loại. Nếu không có Phật pháp, con người sẽ còn độc ác hung bạo gấp bao lần, cuộc đời còn chìm đắm trong đau khổ biết bao lâu. Chúng ta có diễm phúc được sống trong hào quang của Ðức Phật, tự thấy đời mình có phần an ổn thanh lương, phiền não có phần giảm thiểu; từ đó vững bước tiến trên đường đạo. Ðể có thể tiếp cận với Ngài, chúng ta không mong thấy được thân tướng, mà phải nương vào nội tâm tỉnh giác của chính mình. Một niệm giác là ta đối diện với ba đời chư Phật, một niệm mê là Phật nhập Niết-bàn. Như thế, giữ gìn thân miệng ý thanh tịnh là phương pháp trực tiếp gặp Ðức Phật một cách dễ dàng và có kết quả không nghi. 

 

 

NHỮNG ÐẶC ÐIỂM CỦA ÐỨC PHẬT 

 

Thông thường, khi liên tưởng đến Ðức Bổn Sư, chúng ta nghĩ đến sắc thân tuyệt hảo của Ngài với 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp. Ðó là sự toàn mỹ của hình thức, mà vì chìu uốn theo thị hiếu của chúng sanh, Ngài đã thị hiện ra đời để dễ bề tiếp cận và giáo hoá. Riêng nhân cách vĩ đại của Ngài, sự toàn thiện toàn chân của đời sống nội tâm, chúng ta khó thể hiểu được thấu đáo vì không có trình độ tâm chứng khả dĩ tương ưng. Tuy vậy, những người con Phật chúng ta cũng cần biết đến một số đặc điểm nổi bật của Ngài, dù chỉ là sơ lược, để củng cố lòng tin và càng thêm tôn kính vị Giáo chủ của mình .

Ðọc lịch sử Ðức Phật Thích Ca từ khi sinh ra đến khi thành đạo và nhập diệt, chúng ta thấy Ngài cũng là một người như bao người bình thường khác.Ngài cũng từng hưởng lạc thú thế gian, từng đau khổ bệnh hoạn và cuối cùng, cũng từ giã cuộc đời như bất cứ ai. Ðây là một điều khích lệ lớn, vì chúng ta thấy Ngài vô cùng gần gũi, và tin tưởng mình cũng có khả năng tu hành, chứng ngộ như Ngài, nếu chúng ta biết đi đúng đường đúng hướng.

Kinh Kim Cang, đoạn mở đầu diễn tả một số công việc thường nhật của Ðức Bổn Sư: "Khi ấy gần đến giờ thọ trai, Ðức Thế Tôn đắp y mang bát vào đại thành Xá-Vệ khất thực. Trong thành, Ngài theo thứ lớp khất thực xong, trở về trú xứ. Sau khi thọ trai, Ngài cất y bát, rửa chân, trải tòa ngồi".Tất cả việc làm nầy hoàn toàn quen thuộc đối với mọi người, không có gì mang tính chất siêu phàm vượt thế hay phô diễn thần thông diệu dụng. Vậy tại sao Trưởng lão Tu-Bồ-Ðề cung kính ca ngợi: "Ðức Thế Tôn! Thật ít có, Như-Lai khéo hộ niệm các vị Bồ -Tát, khéo phó chúc các vị Bồ- Tát "? - Như hoa sen trong bùn vẫn nở hoa tinh khiết, Ðức Phật ở trong trần lao nhưng không vướng chút nhiễm nhơ. Ngài đã tẩy sạch lậu hoặc phiền não, không còn vô minh tăm tối. Hàng ngày Ngài vẫn đối duyên xúc cảnh, vẫn sinh hoạt nói năng, nhưng tâm Ngài không khởi niệm phân biệt khen-chê-ưa-ghét. Nhà Phật gọi đó là Tâm bình thường - tâm ấy chính là Ðạo. Toàn thân Ðức Phật là Ðạo, nên bên trong hình thức bình thường lại chứa đựng sự phi thường, ngay nơi những hành động thường tục luôn ẩn tàng sự siêu tục. Chính vì thế, chúng ta luôn xưng Ngài là Ðấng Thế tôn - bậc tôn quí của thế gian.

Do rốt ráo chứng ngộ, có cái nhìn thấu thể vào bản chất muôn pháp, nên Ðức Phật không chấp nhận có một quyền lực siêu nhiên nào có thể kiểm soát và chi phối vận mệnh con người. Ngài cũng từng nói, Ngài không phải là một đấng thần linh có quyền ban phước giáng hoạ cho ai. Mỗi người tự làm chủ vận mệnh của mình, tự mình tạo nghiệp và thọ hưởng kết quả của nghiệp ; không ai cứu rỗi được mình và mình cũng không thể tu thay cho người khác.

Phật dạy:

"Hãy tự xem con là hải đảo của con

Hãy tự xem con là nơi nương tựa của con

Không nên tìm nương tựa nơi ai khác".

Người đi biển gặp trận cuồng phong, thuyền gần chìm đắm, bỗng nhiên thấy một hòn đảo ở phía trước, ai cũng muốn tấp ngay vào để tìm sự bình an. Hải đảo là nơi nương tựa của thuyền khi gặp tai nạn trên biển, cũng như mình là nơi nương tựa vững chắc của mình khi bị sóng đời vùi dập. Ðối với người tu, sự nổ lực cá nhân chính là điều kiện quyết định để đạt mục tiêu giác ngộ và giải thoát. Nếu gởi gắm mục đích tối hậu của đời mình vào một năng lực siêu nhiên, ấy là ta đã lầm lạc từ căn bản. Ðức Phật còn bị nạn kim thương mã mạch, huống gì phàm phu chúng ta. Cho nên, cầu Phật gia hộ cho mìmh luôn gặp may mắn hạnh phúc, là điều không thực tế. Chúng ta hiểu cặn kẽ luật nhân quả, có sức mạnh tinh thần, thì dù gặp thử thách khó khổ vẫn có sức tự chủ và kham nhẫn. Người biết tu không phải mong tránh khỏi nạn tai, mà là người luôn giữ chánh niệm tỉnh giác trước mọi hoàn cảnh thuận nghịch trong đời.

Ðề cao tinh thần tự lực, không phải đạo Phật hoàn toàn chối bỏ sự gia trì giúp đỡ của tha lực. Tuy "tự mình thắp đuốc lên mà đi ", nhưng phải "thắp lên với chánh pháp". Ðức Phật là bậc Ðạo sư, vị Thầy dẫn đường. Chúng ta tự mình tiến bước, nhưng phải đi theo con đường Ngài đã đi, nếu không muốn lạc vào ngã rẽ. Khi tâm ta thanh tịnh, phần nào tương ứng cùng tâm chư Phật Bồ-Tát, tự nhiên được thần lực của các Ngài gia hộ độ trì, sự linh ứng sao có thể phủ nhận? Nếu tham sân si còn đầy dẫy mà thắp hương dâng lễ cầu xin việc nầy việc khác, mong các Ngài thỏa mãn nguyện ước của mình, thử hỏi điều mong ước ấy có thể thành tựu được không?

Trả cho con người quyền làm chủ cuộc đời mình, trong cả ba thời quá khứ - hiện tại - tương lai, quả thật đạo Phật mang tính nhân bản rất cao và tính tự do tuyệt đối. Ðây là một nét độc đáo của đạo Phật, vì vị Giáo chủ không bao giờ tự xưng mình là Ðấng cứu tinh của nhân loại. Với tinh thần nầy, chúng ta đến chùa nghe pháp, cũng không vội vàng tin tưởng mù quáng vào ai, không thần tượng hóa người nào, dù đó là một vị thầy khả kính. Nói như thế không phải khuyến khích sự tự tôn kiêu mạn hay sự nghi ngờ quá đáng, mà chỉ cốt đề cao khả năng tư duy độc lập, trí tuệ nhận định đúng - sai, hay - dỡ. Người Phật tử cần có chánh kiến và chánh tín, biết đâu là đường hướng phải theo, ai là vị Thiên tri thức hướng dẫn đời mình. Khi đã quyết định đúng, ta sẽ có niềm tin kiên cố, có sức mạnh phi thường vượt qua mọi trở ngại gian nan để hoàn thành đạo nghiệp. Ta sẽ có sức sống trào dâng, có cơ hội bơi lội vào công phu của chính mình để truyền đạt sức sống ấy cho mọi người xung quanh.

Một đặc điểm quan trọng và độc đáo góp phần hình thành nhân cách vĩ đại của Ðức Phật, cũng là một yếu tố căn bản khiến đạo Phật còn lưu truyền mãi đến ngày nay, là tính bình đẳng đích thực. Không những Ngài chủ trương bình đẳng giữa những giai cấp trong xã hội, giữa hai giới nam và nữ, mà còn bình đẳng giữa loài người với mọi loài chúng sanh. Ðặc biệt hơn cả là sự bình đẳng giữa Ngài là vị Giáo chủ tối cao với tất cả môn đệ. Bằng trí tuệ siêu xuất của một bậc Giác ngộ toàn triệt, Ngài thấy mọi chúng sanh đều có Phật tánh, mọi chúng sanh đều có khả năng thành Phật. Vàng còn trong quặng bị lẫn nhiều tạp chất, chưa biểu lộ giá trị thật sự của nó. Ðến khi được tôi luyện thành vàng ròng, nó mới được tôn vinh. Ðức Phật là vàng đã tôi luyện, chúng sanh còn là vàng trong quặng phiền não vô minh. Nói về hình thức, Phật và chúng sanh khác nhau ngàn trùng. Nhưng về bản chất, thì rõ ràng giữa Phật và chúng sanh không hơn không kém. Bản chất vàng ấy là Phật tánh bình đẳng của muôn loài hữu tình, mà nếu nhận ra, tức đã có chánh nhân thành Phật.

Xã hội Ấn Ðộ thời bấy giờ bị phân chia thành bốn giai cấp, trong đó Thủ -Ðà- La là giai cấp nô lệ, bần cùng nhất và bị khinh miệt nhất. Chính Ðức Phật đã làm một cuộc cách mạng lớn khi mạnh mẽ xóa bỏ giai cấp, khiến lung lay cả thể chế cố định từ bao đời. Ngài đã dõng dạc tuyên bố: "Không có giai cấp khi mọi dòng máu cùng đỏ; không có giai cấp khi mọi nước mắt cùng mặn". Trong giáo đoàn của Ngài, mọi người đều được cư xử ngang nhau, đều được hưởng pháp âm vi diệu như nhau, đều có điều kiện tu hành giống nhau, và đều có cơ hội chứng Thánh quả nếu tu hành đắc lực. Ðối với nữ giới, xã hội đương thời không xem trọng, các giáo phái khác cũng không cho gia nhập. Riêng Ðức Phật, dù đợi Ngài A-Nan cầu xin đến ba lần và đặt ra Bát kỉnh pháp, Ngài vẫn cho phép Di mẫu cùng một số nữ đệ tử xuất gia. Chư Ni trong thời Ðức Phật cũng chứng Thánh quả, cũng có những vi nổi danh đệ nhất về trí tuệ, thần thông, biện tài ... như chư Tăng không khác.

Tâm từ bi của Ðức Phật vô cùng rộng lớn, nên Ngài đối xử bình đẳng với tất cả mọi người, không phân biệt thân sơ, thù bạn. Kẻ sát nhân Anguilimala hay kỹ nữ Ambapàli cũng được Ngài giáo hóa và thành tựu công hạnh như các Ðại đệ tử của Ngài. Ngay như Ðề-Bà-Ðạt-Ða, kẻ phá hòa hợp Tăng, ác tâm hãm hại Ngài nhiều lần, Ngài vẫn tha thứ bao dung. Thuyền to sóng lớn, chính người có công phu tu hành cao thâm lại thường gặp nhiều trở ngại thử thách kinh khiếp, mà nếu vượt qua được, sẽ tiến một bước rất dài trên đường đạo. Cho nên, ta có thể hiểu vì sao Ðức Phật bảo Ðề-Bà-Ðạt-Ða là Thiện hữu tri thức bậc nhất của Ngài. Chúng ta theo gương Ngài, nhìn cuộc đời bằng đôi mắt bao dung như thế thì phiền não giảm thiểu biết chừng nào !

Một số giáo phái thời Ðức Phật có tục lệ giết súc vật tế cúng thần linh. Bằng biện tài vô ngại, Ðức Phật đã thuyết phục được ngoại đạo bãi bỏ việc giết hại ấy. Trong giáo đoàn của Ngài, các môn đệ đều phải giữ gìn cấm giới, mà giới không sát sanh, bao gồm việc không giết người và cả súc vật - được đưa lên hàng đầu. Bởi vì, tất cả chúng sanh hữu tình đều có mạng sống, cũng ham sống sợ chết như con người. Không lý gì con người lại dùng sinh mạng của chúng để phục vụ cho nhu cầu dinh dưỡng và giải trí cho mình; nói chi đến việc tế lễ cầu Thánh Thần ban ơn phước. Ngay cả cây cỏ, chúng cũng có cái biết, dù rất yếu và thô. Ngày nay, các nhà khoa học đã chứng minh, cây khi được nghe những bản nhạc êm dịu sẽ trổ hoa và ra trái nhanh hơn những cây đối chứng. Cách đây trên 25 thế kỷ, vị Giáo chủ của chúng ta đã dạy các Tỳ-Kheo, phải có lòng biết ơn những loài thực vâït cho mình bóng mát, rau quả, không được hũy hoại mầm sống dù ở hình thức nào. Có thể nói, người tu theo tinh thần đạo Phật không những tôn trọng sinh mạng của con người và loài vật, mà còn biết bảo vệ môi trường sống, biết tạo khung cảnh yên lành thanh lương cho tất cả chúng sanh.

Nhân ngày Phật đản, chúng ta ôn lại những đức tính hiếm có của Ðức Bổn Sư, để thấy mình có phước duyên vô hạn mới được làm đệ tử của Ngài, được đi theo con đường Ngài chỉ dạy. Nhân cách vĩ đại của Ðức Phật là tấm gương sáng chói về trí tuệ, đạo đức và phương cách xử thế. Hiểu Ngài bao nhiêu, chúng ta càng tôn kính và tin tưởng Ngài bấy nhiêu. Và tôn kính tin tưởng Ngài, chúng ta cũng tôn kính tin tưởng giáo pháp của Ngài cùng những sứ giả thay Ngài nối truyền mạng mạch Phật Pháp.

Chúng ta nguyện noi gương Ngài, nỗ lực tu hành để phát huy trí tuệ và từ bi, tích cực đem Ðạo vào đời để chan rải niềm an lạc hạnh phúc cho tất cả mọi loài. Một ngày nào đó, chúng ta viên thành công hạnh tư lợi - lợi tha, đó mới thật là đền đáp được ơn sâu dày của Ðức Bổn Sư, mới không cô phụ bản hoài của chư Phật Bồ - tát. Tu hành theo tinh thần ấy, chúng ta mới xứng đáng là môn đêï trong nhà Phật, và dù đã xa Ðức Phật một khoảng cách không gian và thời gian, chúng ta vẫn ở trong Pháp hội Linh Sơn, vẫn được tắm gôïi trong hào quang vi diệu của Ngài, vẫn tận hưởng khoảnh khắc thiên-thu của cành sen Ðức Phật và nụ cười Ca-Diếp!

  

ÐỨC PHẬT MỘT NHÂN CÁCH VĨ ÐẠI

 

“Một người, nầy các Tỳ kheo, khi xuất hiện ở đời, là xuất hiện một cách vi diệu. Người ấy là ai? Chính là Thế Tôn, bậc A-La-Hán Chánh đẳng giác”. Ðức Phật đã nói về sự xuất hiện của chính bản thân Ngài và của chư Phật, một sự kiện vô cùng trọng đại ngàn năm chưa một thuở.

Vì sao sự kiện Ðức Phật đản sinh được tôn xưng bằng mỹ từ “vi diệu”? - Bởi vì sự hiện diện của Ngài trên thế gian như ánh sáng mặt trời xua tan bóng đêm tăm tối; chúng sanh nhờ Ngài dẫn lối đã biết thế nào là hạnh phúc đích thực, là bình an vĩnh cửu, thế nào là tình thương chân thật và bình đẳng giữa người với người, giữa người với vũ trụ vạn loại. Và trên tất cả, Ngài ban cho toàn thể loài người một phương thuốc nhiệm mầu điều trị được nỗi khổ lớn nhất của chúng sanh: nỗi khổ trầm luân sinh tử.

Một tác phẩm quan trọng viết về cuộc đời Ðức Phật Thích-Ca, từ lúc đản sinh đến khi nhập diệt, là Phật Sở Hành Tán của Bồ-tát Mã Minh (100-160), tác giả bộ Luận Ðại thừa Khởi tín. Trong tác phẩm nầy có nhắc lại lời Ðức Bổn Sư lúc mới đản sinh như sau:

Thử sinh vi Phật sinh

Tắc vi hậu biên sinh

Ngã duy thử nhất sinh

Ðương độ ư nhất thiết.

 

Tạm dịch:

Phật thị hiện sinh ra

Là lần sinh cuối cùng

Ta trong một đời nầy

Nguyện độ khắp tất cả.

Bài kệ nầy cho thấy rõ, sự xuất hiện của Ðức Phật là sự thị hiện của một Bồ-Tát Nhất sanh bổ xứ. Chỉ còn sinh ra trên thế gian nầy trong một đời, tu hành và thành tựu quả vị Phật, nên Ngài biết rõ đây là lần sinh cuối cùng. Còn phàm phu chúng ta, khi ra đời mờ mờ mịt mịt, đâu thể biết mình phải chịu luân hồi bao nhiêu kiếp nữa? Có phước duyên gặp Phật pháp, nguyện nỗ lực tu hành mong chặt đứt mối manh sinh tử, nhưng chúng ta cũng phải trải qua biết bao đời kiếp, đâu phải chỉ một sớm một chiều. Ðiều này nhắc nhở chúng ta thận trọng khi nghe người quả quyết có thể giúp ta giải thoát chỉ trong một đời.

Vì biết rõ đây là lần sinh cuối cùng, nên Ðức Phật nguyện trong đời này độ khắp tất cả muôn loài. Ròng rã suốt 45 năm, Ngài đã đi cùng khắp xứ sở, giáo hóa cho mọi người biết con đường sáng phải theo nếu muốn vĩnh thoát luân hồi. Công hạnh của các vị Bồ-tát, từ lúc sơ phát tâm đến Nhất sanh bổ xứ đều nhằm mục đích duy nhất, vừa tự lợi vừa làm lợí ích cho chúng sanh. Ðến khi thành Phật, các Ngài vẫn thị hiện khắp các cõi, dưới nhiều hình tướng thích hợp, hóa độ cho những chúng sanh hữu duyên. Các Bồ-tát Quan-Âm, Văn Thù, Phổ Hiền hoặc cư sĩ Duy-Ma-Cật đều là những hình ảnh tuyệt vời về công hạnh độ sanh của các vị Cổ Phật, trợ hóa cho Ðức Phật Thích Ca.

Bản thân Ðức Phật đã từng miệt mài khổ luyện ở trường đời và trường đạo, nhờ vậy ngài sở đắc kiến thức bác lãm của thế gian và trí tuệ tuyệt vời xuất thế gian. Từ năm 16 tuổi, Ngài đã thông thạo văn chương võ nghệ, luôn dẫn đầu trong những cuộc thi tài. Lúc xuất gia tìm thầy học đạo, Ngài đã quán thông mọi ngành tư tưởng triết học và tôn giáo đương thời, thấu triệt 62 kiến chấp của ngoại đạo. Nhiều lần vào hội chúng ngoại đạo có khi đông cả ngàn người, Ngài vẫn dễ dàng đối phó. Nhờ trí tuệ siêu xuất và vô ngại biện tài, Ngài thấy rõ những sai lầm trong các luận thuyết của họ, và bẻ gãy những luận điểm ấy một cách khoa học, đầy sức thuyết phục. Một số vị trưởng lão hoặc chức sắc cao cấp của Bà-la-môn, Kỳ-na-giáo ... đã quy y theo Ðức Phật, trở thành những đệ tử lớn của Ngài. Ðức Phật được tôn xưng là bậc Thế gian giải, vì Ngài uyên bác về cuộc sống thế gian về mọi lĩnh vực trong đời người. Ngài đã chỉ dạy tường tận về bản chất của cuộc đời là khổ, nguyên nhân của khổ để đưa đến cái thấy như thật về các pháp là con đường bất tử thực chứng Niết-bàn.

Không những Ðức Phật là vị đại diện tối cao của trí tuệ, Ngài còn là tấm gương sáng ngời về lòng từ bi vô hạn và ý chí kim cương. Bằng trí tuệ xuất thế, Ngài nhìn tất cả các pháp một cách thấu thể tận nguồn cội của chúng, nên đối cảnh mà tâm vẫn như như. Ngài thấy chúng sanh muôn loài đều bình đẳng ở tánh giác, chỉ vì vô minh nhận thân cảnh giả là thật mình, mãi tạo nghiệp và đắm chìm trong sinh tử, nên Ngài phát khởi tình thương bình đẳng và rộng khắp tất cả chúng sanh. Ðây là bản chất của lòng từ bi – ban vui và cứu khổ. Chính vì lòng từ bi, Ngài đã hy sinh mọi tài sản, quyền lực và hạnh phúc thế gian, cả thân xác mình lúc tìm thầy học đạo, chỉ với mục đích duy nhất là tìm cho mình và cho chúng sanh con đường thoát ly sinh tử.

Sống và tu chỉ với mục đích duy nhất ấy, Ngài đã khắc phục biết bao trở ngại từ bên ngoài và cả bên trong: bên ngoài là hoàn cảnh khó khổ, ngoại đạo phá khuấy; bên trong là những tập khí tham-sân-si ngay tự thân. Ðây là ý chí sắt đá, là hùng lực của bậc Thánh nhân, thể hiện rõ nhất nơi lời thề sấm sét dưới cội Tất-bát-la: dù thịt nát xương tan, nếu chưa thành tựu đạo quả thề không rời khỏi chỗ nầy! Và sau 49 ngày nổ lực công phu, cuối cùng Ngài đã hoàn thành sự nghiệp vĩ đại: trở thành Bậc Vô thượng Chánh Ðẳng Chánh giác, Ðấng ban vui của toàn thể chúng sanh, Bậc Thầy cao cả của Trời và Người!

Nhân cách tuyệt vời của Ðức Phật còn biểu hiện ở tính khiêm cung, một đức tính rất đáng quý và rất hiếm gặp nơi những vị đứng đầu thiên hạ. Dù được tôn xưng bằng nhiều danh hiệu cao quý, dù được các bậc vua chúa cung kính cúng dường, Ngài vẫn giữ nếp sống giản dị của Sa Môn. Bàng bạc trong kinh điển là lời Ðức Phật nhiều lần nhắc nhở, Ngài không phải là một Ðấng quyền năng ban phước giáng hoạ, mà chỉ là một Người dẫn đường. Những ai đi theo con đường Ngài chỉ dẫn đều có thể giác ngộ giải thoát; nhưng đi hay không, đi nhanh hay chậm là công việc của riêng mỗi người. Với lời dạy nầy, Ðức Phật đã trả lại cho con người quyền làm chủ đích thực – làm chủ cả vận mệnh, tương lai và sự sanh tử của chính mình.

Chúng ta đang sống trong thời kỳ khoa học công nghệ đang phát triển vượt bâïc, nhưng đời sống tâm linh lại có chiều hướng đi xuống. Con người phần đông thiên về tiện nghi vật chất, chỉ nghĩ đến quyền lợi bản thân và lợi ích cục bộ mà quên sự cần thiết của đạo đức. Từ đó đưa đến hận thù, chiến tranh, đau khổ; và hạnh phúc như là một thứ xa xỉ phẩm, một cái bóng phù du không bao giờ với tới. Sự hiện diện của Ðức Phật, của Tăng đoàn, sự truyền bá chánh pháp của Ngài đã trở nên cần thiết và sự quan yếu đối với sự bình an của toàn nhân loại. Bởi vì, Ngài chỉ dạy rõ ràng cho chúng ta về đạo tình đạo nghĩa, về những hiểu biết đúng đắn đối với các pháp thế gian và xuất thế, về phương pháp tìm hạnh phúc đích thực cho mình và cho mọi người. Hình ảnh Ngài và các Thánh đệ tử đầu trần chân đất, ôm bình bát đi khất thực một cách thong dong tự tại, là một hình ảnh thật đẹp đẽ của một hạnh phúc Vô ngã-vị tha. Tình cảm thì không ai không có, nhưng cần được tịnh hoá và hướng về tha nhân mới là tình cảm chân chính; còn tình cảm vị kỷ, yêu thương người vì mình chỉ là sự ràng buộc chiếm hữu của phàm phu.

Mặt khác, lòng từ bi cần được soi sáng bằng trí tuệ. Người quá nhiều tình cảm bi luỵ rất dễ bị khuynh đảo trước những cám dỗ của tiền trần, dễ bị lung lay trước những gian nan trở ngại. Có trí tuệ, lòng từ bi sẽ được hướng dẫn một cách chuẩn xác, các công việc ngoài đời cũng như trong đạo sẽ chu toàn. Hơn nữa, nhờ biết suy xét cân nhắc, con người càng thêm ý chí nghị lực vượt qua mọi hoàn cảnh khó khăn, dù gặp nhiều thất bại cũng không nản lòng. Muốn thành công trong công danh sự nghiệp, người đời phải trải qua bao nhiêu năm học hành khổ luyện, bao nhiêu cay đắng của thất bại, thậm chí bao nhiêu lần bị nhục nhã rẻ khinh? Sự nghiệp thế gian còn như thế, huống gì là sự nghiệp xuất thế gian là thành Phật tác Tổ, càng đòi hỏi đại hùng lực, đại ý chí mới mong bơi ngược dòng nước, phục hồi chức năng ban sơ là nhận ra Phật tâm sẵn đủ của chính mình.

Sơ Tổ Trúc Lâm Ðại Ðầu Ðà, trong bài phú Cư Trần Lạc Ðạo đã viết:

Bụt ở trong nhà, chẳng phải tìm xa

Nhân khuấy bản nên ta tìm Bụt

Ðến cốc hay chỉn Bụt là ta.

Vì quên gốc (khuấy bản) nên chúng ta mãi lăng xăng tìm Phật nơi rừng núi xa xôi, không ngờ Phật ở ngay trong ta- ấy là tánh giác thanh tịnh hằng hữu mà chúng sanh nào cũng có. Mỗi chúng sanh như một đợt sóng trên biển cả, sinh ra là sóng nổi, mất đi là sóng chìm. Sóng có sinh diệt chìm nổi, còn bản chất nước chưa bao giờ sinh diệt; thân chúng sanh chết đi sinh kia, lẩn quẩn trong sáu đường ba cõi   , còn tánh giác hay Phật tâm không hình tướng, như hư không bàng bạc khắp chốn thì có bao giờ vắng mặt? Ðức Phật Thích Ca lịch sử có 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp là Ðức Phật hình tướng, có sinh có tử; còn Ðức Phật Pháp thân không đi không đến, chưa hề sinh ra và chưa hề nhập diệt. Người giác ngộ là người nhận ra và sống được với Ðức Phật Pháp thân ấy của chính mình; trong khi phàm phu chúng ta lại nhận lầm thân sinh diệt là mình, mà quên Ðức Phật Pháp thân sẵn có, từ đó cứ mãi chịu nỗi khổ luân hồi. Chúng ta không biết rằng tâm suy nghĩ tưởng tượng chỉ là hư dối không phải mình; còn lúc bặt hết vọng tưởng điên đảo, ta vẫn rõ ràng thường biết- cái Biết ấy mới là chân thật. Ðây cũng là ý nghĩa diệu mầu của sự đản sinh: Khi tâm an định mà hằng tỉnh hằng giác là Phật ra đời, khi vọng tưởng lăng xăng che mờ tánh giác là Phật nhập diệt.

Ðức Phật xuất hiện nơi đời có ảnh hưởng lớn lao và tốt đẹp đối với vận mệnh nhân loại. Nhất là trong thời đại nhiều biến động tinh thần và những đe doạ thường trực giữa người với người, giữa người với thiên nhiên và môi trường sinh thái, thông điệp về lòng từ bi của Ðức Phật là một phương thuốc điều trị tâm bệnh không thể thiếu. Khi nào con người còn đau khổ, đạo Phật còn giữ vai trò phụng sự, vì giáo lý nhà Phật giúp con người ý thức rõ hơn bản chất của sự khổ, thúc giục con người tiến tu thoát khổ. Ðức Phật lịch sử đã trở về quá khứ, nhưng trí tuệ và lòng từ bi của Ngài vẫn còn mãi là tấm gương sáng tuyệt vời cho chúng ta noi theo.

 

32 TƯỚNG TỐT CỦA BẬC ÐẠI NHÂN

 

Sau khi Thái tử Tất-Ðạt-Ða đản sinh, vua cha Tịnh-Phạn triệu tập các vị tinh thông tướng số đến tiên đoán vận mệnh cho Thái tử. Các vị xem tướng xong, đồng tâu lên rằng: “Thái tử có đủ 32 tướng tốt của một Bậc Ðại nhân, thật hiếm có trên đời. Ðây là những dấu hiệu báo trước Ngài sẽ là Bậc vĩ nhân đệ nhất trong thiên hạ. Nếu Ngài làm vua, sẽ là vị Chuyển luân Thánh vương; nếu xuất gia tu hành, Ngài sẽ là Bậc Ðại Giác Ngộ”. 

Trong mùa an cư cuối cùng, Ðức Phật báo trước sẽ lên cung trời Ðao-Lợi thuyết pháp cho chư Thiên và Thánh mẫu Ma-Gia. Vua xứ Kosala là Pasennadi, do lòng kính ngưỡng Ðức Phật, xin phép được họa chân dung Ngài trước khi Ngài tạm rời nhân gian. Ðược Ðức Phật chấp thuận, nhà vua thỉnh Ngài thọ trai tại hoàng cung; ở đây có 12 vị họa sư nổi tiếng cùng tề tựu để quan sát và vẽ lại chân dung Ðức Phật. Tuy nhiên, sau đó tất cả các họa sư đều quỳ xuống xin nhà vua tha tội, vì “Hình tướng Ðức Thế Tôn đẹp lạ lùng, chúng thần sửng sờ chỉ ngắm nhìn suốt buổi mà không vẽ được nét nào cả”. Ðức Phật nghe nói thương tình, cho in bóng mình lên nền nhà để các họa sư đồ họa lại. Ðây là bức vẽ chân dung đầu tiên của Ðức Phật.

Về sau, nhà vua lại truyền lệnh cho các thợ điêu khắc tài giỏi trong nước tạc tượng Ðức Phật theo mẫu vẽ ấy. Nhưng không người thợ nào dám nhận nhiệm vụ, vì “Sắc tướng Ðức Thế Tôn vạn lần cao quý, siêu tuyệt trần gian; nếu không chuyển tải được những đức tướng ấy trên tượng thì e đắc tội với Ngài”. Có một vị Thiên nhân chuyên về kiến trúc tên Tỳ-Thủ Yết-Ma hóa thân làm thợ mộc, yết kiến nhà vua xin nhận việc. Chỉ sau một ngày, vị Trời ấy đã tạc xong pho tượng Ðức Phật bằng gỗ trầm hương, cao 7 thước mộc, mặt và tay chân đều màu vàng tía. Nhà vua vừa trông thấy bức tượng, phát sinh đức tin thanh tịnh, chứng Nhu thuận nhẫn, bao nhiêu nghiệp chướng phiền não đều được tiêu trừ (kinh Ðại thừa công đức tạc tượng Phật - Ðại chính Tân tu Ðại tạng kinh).

Các tài liệu Phật học mô tả 32 tướng tốt của Ðức Phật có đôi chỗ khác nhau, nhưng tựu trung có thể kể ra như sau:

1- Ðỉnh đầu có nhục kế.

2- Tóc màu xanh đậm, xoăn thành Vòng theo chiều bên phải.

3- Trán rộng và bằng phẳng.

4- Khoảng giữa hai chân mày có một sợi lông trắng mịn.

5- Mắt xanh biếc, mi dài như mi ngưu vương.

6- Có đủ 40 răng.

7- Răng nhỏ và đều khít.

8- Răng trơn láng, trắng trong như ngọc.

9- Chân răng rất sâu, không khuyết hở.

10- Lưỡi rộng và dài, có thể chạm đến chân tóc trên trán.

11- Nước trong cổ họng có vị ngọt thơm.

12- Quai hàm như hàm sư tử

13- Giọng nói trong ấm và vang xa như tiếng Phạm vương.

14- Thân hình thon cao.

15- Da mịn màng, màu như vàng ròng, bụi không thể bám vào.

16- Lông trên mình màu xanh và mềm mại, đều xoay tròn theo chiều bên phải.

17- Mỗi lỗ chân lông chỉ có một sợi lông mọc.

18- Bảy chỗ bằng phẳng và đều đặn.

19- Nửa thân trên như thân sư tử.

20- Không có khuyết lõm giữa hai vai.

21- Hai tay buông thỏng dài đến đầu gối.

22- Ðầu cánh tay trắng tròn.

23- Ngón tay thon dài.

24- Tay chân mềm mại.

25- Lòng bàn chân có đủ 1.000 xoáy trôn ốc.

26- Kẻ ngón chân có màng da lưới.

27- Âm tàng như mã vương.

28- Ðùi như lộc vương.

29- Gót chân thon, tròn đẹp.

30- Mắt cá chân tròn, không lộ ra.

31- Mu bàn chân cao và đều đặn.

32- Lòng bàn chân bằng phẳng, có hình bánh xe.

Ðiểm qua 32 tướng tốt để chúng ta có thể nhận diện nhân dáng toàn mỹ của Ðức Phật. Thật ra, có một vài chi tiết khó hình dung nơi một con người thời nay, như tướng lưỡi rộng dài quá mức hay màng da lưới ở kẻ ngón; hoặc một số tướng tốt chỉ xuất hiện khi Ðức Phật đã trưởng thành chứ không phải được mô tả lúc Ngài đang ở tuổi sơ sinh, như tướng răng, giọng nói, thân hình... Tuy nhiên, chúng ta không nên dùng ý thức phàm tình để xét đoán về một Bậc Thánh nhân, vì đôi khi những chi tiết mô tả về Ngài có thể ẩn tàng một ý nghĩa sâu xa nào đó. Ví dụ, tướng lưỡi rộng dài là kết quả bao nhiêu đời kiếp Ngài không một lời nói hư dối; khối thịt vun trên đỉnh đầu (nhục kế) là tướng của một người có trí tuệ tột đỉnh; lông trắng giữa hai chân mày (bạch hào tướng quang) tượng trưng cho Trung đạo, lìa sự cố chấp hai bên; lòng bàn chân có hình bánh xe biểu hiện một sứ mạng cao cả là lưu truyền chánh pháp... Những tướng tốt hy hữu ấy đã minh chứng bao nhiêu công đức tích lũy được trong vô lượng kiếp tu hành của một Bồ tát Nhất sanh bổ xứ, chỉ còn một đời ở cõi Ta-bà là thành tựu Phật quả.

Thân tướng tốt đẹp cũng là sự thị hiện của Ngài, do chìu theo sự ưa thích cái đẹp của chúng sinh. Khi mới tiếp xúc lần đầu, chúng ta thường chú ý đến vẻ ngoài của người đối diện, sau đó mới tìm hiểu về tính tình và đời sống nội tâm. Ðức Bổn Sư của chúng ta, với 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp thật toàn mỹ và phi phàm, đã khiến cho bất cứ ai, khi vừa gặp Ngài đều sinh lòng quý kính. Ðây là điều kiện thuận lợi để tiếp cận với người khác, sau đó Ngài mới tùy duyên mà giáo hóa. Trong pháp hội của Ðức Phật, được nhìn dung mạo Ngài, nghe giọng nói Ngài trầm hùng như tiếng sóng biển, tiếng chim Ca-lăng-tần-già, toàn thể đại chúng đều sinh lòng kính tín, tâm hoan hỷ thanh tịnh lạ thường. Nhiều người đắc quả vị Hiền Thánh chỉ sau một lần được diện kiến Ðức Phật hoặc nghe Ngài thuyết pháp.

Nhưng thân tướng đẹp đẽ vô song ấy, có phải không bao giờ đổi thay hoại diệt? Trong kinh kể lại, một hôm Ðức Phật ngồi sưởi ấm dưới nắng, Ngài A-Nan đến gần, buồn rầu thưa rằng “Bạch Ðức Thế Tôn, làn da ánh như vàng ròng của Người nay còn đâu, chỉ có màu xám xịt nhăn nheo của tuổi già”. Ðức Phật dạy: “Này A-Nan, đây là sanh thân của Như-Lai, hữu hình ắt hữu hoại”. Thân xác do tứ đại hợp thành, đủ duyên thì hiện hữu, hết duyên lại trở về cát bụi. Vô thường có tha ai bao giờ? Vô thường là quy luật tất yếu của cuộc sống, nhưng cũng là điều kiện cần thiết cho sự tiến hóa của vũ trụ vạn loại. Hoa nở rồi tàn, rụng xuống thành rác, từ rác có cây khác mọc lên, và hoa lại nở, tạo thành vòng biến chuyển không dừng trụ. Sanh thân của Ðức Phật, dù đầy đủ 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp cũng do tứ đại duyên hợp tạm có, tồn tại trên thế gian trong 80 năm và cũng chịu sự chi phối của luật vô thường, cũng ở trong vòng biến chuyển của luân hồi sinh tử. Thế thì, ý nghĩa cao cả của sự tu hành là Giác Ngộ - Giải Thoát phải được hiểu như thế nào?

Kinh Phạm Võng Trường Bộ tập I, Ðức Phật dạy rằng: “Này các Tỳ-kheo, thân của Như-Lai còn tồn tại, nhưng cái khiến đưa đến một đời sống khác đã bị chặt đứt. Khi thân Như-Lai còn tồn tại, thì chư Thiên và loài người có thể thấy thân ấy. Khi thân hoại mạng chung, thì chư Thiên và loài người không thể thấy được”. Ðộng lực khiến tái sanh vào kiếp khác là phiền não tham sân si đã bị chặt đứt thì dù sanh thân còn tồn tại nhưng đã thoát khỏi vòng kiềm tỏa của luân hồi. Chư Thiên và loài người chỉ có thể thấy được sanh thân của Ðức Phật, tức thân có 80 vẻ đẹp và 32 tướng tốt, thân có sinh ra, có bệnh tật, có già nua và có hoại diệt. Nhưng khi sanh thân không còn nữa, thì mắt của Trời người không thể thấy Như-Lai. Bởi vì Như-Lai chính là Pháp Thân vô tướng, là Thật tướng thường trụ. Pháp thân vô tướng nên không bao giờ sinh diệt, vì không có chỗ trụ nên thường hiện hữu khắp cõi Tam thiên, vắng lặng mà chiếu soi, không thể dùng ý thức suy lường mà sẵn đủ nơi tất cả chúng sanh. Ðức Bổn Sư đã nhận ra và hằng sống với tánh giác sẵn đủ ấy nên Ngài là Phật; còn chúng sanh do quên tánh giác, mãi đuổi theo trần cảnh, tạo nghiệp, nên vẫn còn lang thang trong sáu nẻo luân hồi. Chư Phật thị hiện nơi đời cũng chỉ có một mục đích duy nhất là chỉ cho chúng ta thấy và trực nhận tánh giác nơi mình, từ đó gột rửa dần tập khí phiền não, cuối cùng thể nhập Pháp thân. Ðó là ý nghĩa của sự tu hành, cũng là bản hoài của chư Phật, Chư Bồ tát.

Cuộc đời của Ðức Bổn Sư, từ lúc còn trên ngôi vị Thái tử đã không màng đến danh lợi hạnh phúc thế gian, đến khi thành đạo vẫn vì chúng sanh giáo hóa suốt 45 năm ròng, là một cuộc đời vô cùng trong sáng và đẹp đẽ. Ngài cũng là người, nhưng là một người phi thường từ thể chất đến tinh thần, từ hình tướng đến tâm linh, từ trí tuệ đến lòng từ bi ban rải bình đẳng đến chúng sanh vạn loại. Chỉ phác thảo về những đặc điểm bên ngoài của Ðức Phật, cũng đủ cho chúng ta phát khởi lòng tôn kính đối với Ngài - Bậc giáo chủ vĩ đại, Bậc Tôn sư của Trời người, như kinh Nikaya viết: “Một chúng sinh duy nhất, một con người phi thường xuất hiện trong thế gian này, vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng bi mẫn, vì sự tốt đẹp, vì lợi ích và hạnh phúc cho Chư Thiên và loài người!” Những người con Phật chúng ta, muốn làm tròn chữ hiếu đối với Ðức Bổn Sư, phải nguyện đời đời tinh tấn tu hành theo lời Ngài chỉ dạy để cuối cùng, thành tựu quả vị Phật như Ngài!

 

 

Chương hai. Ý NGHĨA PHẬT THÀNH ÐẠO

 

CON ÐƯỜNG TÌM ÐẠO VÀ CHỨNG ÐẠO CỦA ÐỨC BỔN SƯ

 

Hàng năm, đến ngày mùng 8 tháng 12 âm lịch, hàng Phật tử nô nức đón chào một sự kiện lịch sử: Ðức Phật Thích Ca thành đạo. Có thể nói, đây là một ngày vô cùng trọng đại, vô cùng thiêng liêng đối với tất cả những người con Phật, vì nếu không có ngày này, sẽ không có Phật Thích Ca; và như thế, cũng không có chánh pháp được lưu truyền và không có chư Tăng giữ gìn mạng mạch Phật pháp.

Hòa với niềm vui chung của muôn loài chúng sanh, hôm nay chúng ta cùng tìm hiểu về ý nghĩa của ngày Phật thành đạo. Ðặc biệt, chúng ta cần biết rõ chặng đường tu hành và nội dung tâm chứng Ðức Phật. Ngài đã trải qua những phương pháp hành trì như thế nào, và cuối cùng thành tựu đạo quả ra sao. Hiểu rõ con đường Ðức Phật đã đi, chúng ta sẽ theo lời dạy của Ngài, nỗ lực công phu để có thể tự mình bơi lội trong mảnh đất tâm của chính mình.

I- Con đường tìm đạo

1- Cầu học nơi các vị Ðạo-sư:

 Từ khi còn ở trong cung vua, Thái tử Siddhatta đã được học hỏi nhiều nhà tư tưởng lớn. Lúc đã vượt thành xuất gia, Thái tử trải qua biết bao nhiêu gian khổ dầm sương dãi nắng, vượt núi băng ngàn, hy vọng tìm được Minh sư giúp mình thoát khỏi luân hồi sinh tử. Thái tử đã theo học với nhiều bậc ẩn tu, cùng công phu với nhiều nhóm Sa-môn theo những phương pháp khác nhau. Từ đó, Ngài đã am tường 62 kiến chấp của ngoại đạo, hiểu rõ tư tưởng của Lục Sư ngoại đạo và Lục Ðại học phái. Ðáng kể nhất, Ngài đã được sự chân truyền của Ðạo sư Alara Kalama, người chứng được địnhVô sở hữu xứ, và Ðạo sư Uddaka Ramaputta, người chứng Phi tưởng Phi phi tưởng xứ. Chỉ trong một thời gian ngắn, Ngài đã đạt được, chứng được những gì hai vị Ðạo sư này đã chứng đạt.

Vô sở hữu xứ và Phi Phi tưởng xứ là hai tầng cao nhất trong bốn tầng Trời Vô-sắc-giới. Từ thấp lên cao gồm có:

- Không vô biên xứ: Hành giả thấy bao nhiêu cảnh giới đều không thật, toàn bộ thế giới chỉ là hư không, thân mình hòa tan trong hư không và tâm hoàn toàn lặng lẽ như hư không. Vị ấy thấy tâm mình đồng nhất với không gian vô biên, và hư không trở thành bản chất của toàn thể vũ trụ. Ðây là tầng thiền định thứ nhất.

- Thức vô biên xứ: Hành giả thấy hư không là cảnh giới bị biết và tâm thức là cái hay biết. Vị âý đồng hóa đối tượng nhận thức là hư không với chủ thể nhận thức là tâm thức của mình. Tất cả đều do tâm thức biến ra. Vị ấy thấy tâm thức của mình là vô biên. Ðây là tầng thiền định thứ hai.

- Vô sở hữu xứ: Tầng thứ ba, hành giả quán chiếu hư không là cảnh giới bên ngoài, tâm thức là cảnh giới bên trong; cả hai đều không thật có. Như vậy, không có một pháp nào thật sự hiện hữu, vì tâm ta như một đại họa sư, vẽ ra tất cả mọi cảnh giới. Vị ấy thấu triệt tính cách hư giả của vạn pháp nên buông bỏ cả đối tượng lẫn chủ thể nhận thức. Tuy nhiên, vị ấy vẫn còn cái cảm giác biết được mình đang buông bỏ; mà còn tri giác tức vẫn còn đối tượng của tri giác.

- Phi tưởng Phi phi tưởng xứ: Ðây là tầng thiền định cao nhất của các Ðạo sư thời bấy giờ. Hành giả biết rõ, tri giác, tức là tưởng, nếu không vượt thoát được thì không đạt đến chân lý. Do vậy, vị ấy xả trừ tất cả tưởng và nghĩ mình đã hoàn toàn giải thoát, chứng nhập Niết- bàn. Ðây là một điều lầm lẫn lớn, vì hành giả mới loại trừ hết các tưởng thô mà vẫn còn những tưởng vi tế. Vị ấy vẫn còn thấy mình có chứng có đắc nên ngã tướng chưa đoạn tận, vì thế không thể nào thoát khỏi vòng sinh tử.

Chỉ có Sa môn Siddhatta Gotama mới có đủ trí tuệ để nhận ra rằng, nhận thức phi thường của vị Ðạo sư bậc nhất là Uddaka Ramaputta vẫn chưa phải là cảnh giới cứu cánh, chưa đáp ứng được mục đích tu hành của Ngài là xa lìa khổ đau và thóat khỏi luân hồi. Vì thế, Ngài lại từ giã vị Thầy ấy cũng như đã giã từ những người Thầy trước, dù vị Ðạo sư già đôi phen khẩn khoản mời Ngài ở lại để cùng dẫn dắt đồ chúng.

Ở đây chúng ta thấy rõ, trước khi xuất gia Thái tử Siddhatta đã định cho mình một mục đích tối thượng: tìm bằng được một phương cách giải quyết vấn đề sinh tử. Với lý tưởng ấy, Ngài từ bỏ mọi thú vui trần thế và cả những danh lợi cùng niềm an lạc xuất thế, vì những điều vui ấy chỉ là tạm bợ, chưa phải là rốt ráo giải thoát. Chỉ những người có lập trường kiên định, có ý chí xung thiên và lòng từ bi vô hạn với muôn loài chúng sanh, mới có thể quên mình, một lòng cầu đạo như thế.

2- Sáu năm khổ hạnh:

Vì biết rằng không thể tìm cầu đạo vô thượng từ bên ngoài, Sa môn Gotama quyết định không đi tham vấn với vị Thầy nào nữa. Ngài tìm một nơi hoang vắng trong rừng sâu, thực hành công phu khổ hạnh.

Trước đây, Ngài đã đôi lần gặp những người tu theo phương pháp này. Các vị chủ trương, muốn tâm được an lạc thanh tịnh thì phải chếâ ngự thân thể không để cho ngũ dục lôi cuốn. Bởi vì, khổ đau phát sinh từ chấp ngã; nếu thân xác vượt thoát được mọi cám dỗ trần tục thì ý thức chấâp ngã không còn, đau khổ sẽ không có cơ hội hoành hành, con người sẽ giải thoát khỏi phiền não. Do vậy, các vị tìm đủ cách để hành hạ thân xác mình; hoặc mỗi ngày chỉ ăn vài hột mè, vài hột cơm hay ăn phân trâu bò; hoặc đứng một chân giữa trời nắng; hoặc quất roi vào thân cho chảy máu hay nằm lăn lộn trên gai; hoặc tọa thiền và cố gắng nín thở hay đè nén vọng niệm ...

Thời gian công phu khổ hạnh này, Sa-môn Gotama có bạn đồng tu là năm anh em Sa-môn Kondanna (Kiều Trần Như), lúc trước cùng học với Ngài tại đạo tràng của Ðạo sư Ramaputta. Với tài năng xuất cách và nghị lực phi thường, Ngài luôn vượt qua các bạn đồng tu. Bây giờ cũng vậy, sự thực hành khổ hạnh ép xác và sức chịu đựng ghê gớm của Ngài làm năm anh em Kondanna khiếp đảm và kính phục vô cùng. Thân hình của Ngài giờ chỉ còn da bọc xương; nếu ấn vào bụng, có thể sờ được xương sống sau lưng; da không còn màu vàng sáng của vẻ đẹp ngày nào mà chuyển sang khô xỉn do thiếu chất dinh dưỡng và lâu ngày không tắm gội. Nhìn Ngài, không ai có thể tưởng tượng cái thây ma biết cử động kia là một Thái tử với 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp. Chỉ còn sót lại đôi mắt sáng như sao, giờ như hai viên ngọc long lanh dưới đáy giếng sâu thẳm.

Sáu năm ròng rã trôi qua, Sa-môn Gotama vẫn không tìm được đạo lý dù thân thể đã kiệt quệ. Ngài thấy rõ rằng, sự thụ hưởng ngũ dục làm suy giảm giá trị tâm linh, khiến con người mãi chịu trầm luân; ngược lại, sự hành hạ xác thân cũng làm tâm trí ngu muội, vì thân và tâm là hai mặt của một thực thể. Sống buông thả theo bản năng là một cực đoan, chế ngự bạc đãi thân xác là một cực đoan thứ hai. Cả hai cực đoan đều không phải là phương hướng đúng đắn để giải quyết vấn đề sinh tử. Ngài quyết định đi vào Trung đạo: Bồi dưỡng lại sức khỏe, dùng niềm an lạc do thiền định đưa đến làm thức ăn cho thân tâm; và Ngài thực hành con đường nội nhiếâp, tự mình làm thầy cho chính mình.

Khi uống bát sữa đầu tiên của mục nữ Sujata, Ngài bắt đầu đoạn tuyệt với phương pháp khổ hạnh, đồng thời lại phải chia tay với nhóm Sa-môn Kondanna. Năm anh em cho rằng Ngài đã thối chí, không còn là người để họ trông cậy tin tưởng, nên bỏ Ngài ra đi. Ngài buồn vì sự hiểu lầm này nhưng không giận trách họ, dốc lòng hạ thủ công phu, mong có một ngày thành tựu đạo quả sẽ tìm gặp và giúp họ tu hành.

II- Thành tựu đạo bồ đề.

Sức khỏe được phục hồi, trí óc trở lại minh mẫn, Sa-môn Gotama đến một gốc cây Pippala bên dòng sông Neranjara (Ni-liên-thuyền), trải cỏ làm tọa cụ. Ngồi vững chãi trong tư thế hoa sen, Ngài tuyên thệ một lời sắt đá: "Ta ngồi nơi đây gia tâm thiền định, dù thịt nát xương tan, nếu chưa chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, ta quyết không rời khỏi chỗ này!". Một lần nữa, Ngài vận dụng ý chí và nghị lực siêu phàm của mình để độc lập tấn công vào những cõi miền hoang sơ trong tâm thức.

Các kinh Ðại thừa diễn tả: Khi sao Mai vừa mọc, Ngài hoát nhiên đại ngộ, và thốt lên rằng: "Lạ thay! Tất cả chúng sanh đều có bản tâm thanh tịnh thường nhiên, cớ sao cứ mãi đắm chìm trong luân hồi sinh tử?”. Do thấy chúng sanh đều có Phật tánh bình đẳng cùng mười phương chư Phật, nên sau khi thành Ðạo, Ngài đi khắp nơi giáo hóa suốt bốn mươi chín năm ròng, không hề mệt mỏi. Sau này, Thiền tông chủ trương "chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật" mà không qua thứ lớp tu tập, có phải trung thành với kết quả chứng ngộ của Ðức Bổn Sư không?

Riêng kinh A-Hàm mô tả rất chi tiết quá trình chứng ngộ của Sa-môn Gotama. Trải qua 49 ngày đêm thiền định, Ngài lần lượt chứng được từ Sơ thiền đến Tứ thiềân. Ðây là cảnh giới thuộc cõi Trời Sắc giới, dành cho những người thoát ly ngũ dục và chuyên tu Thiền định. Khác với cõi Dục giới chỉ có Thức mà không có Ðịnh, và cõi Vô Sắc giới có Ðịnh mà không Huệ; cõi Sắc giới bao gồm cả Ðịnh và Huệ, nên còn gọi là Cõi trời thiền. Cõi này vẫn còn nằm trong tam giới nên chưa thoát khỏi luân hồi, gồm 4 tầng thiền định từ thấp lên cao.

- Sơ Thiền (ly sanh hỷ lạc): Do xa lìa ngũ dục nên đạt được trạng thái khinh an. Hành giả vẫn còn ham muốn nhưng chỉ mong muốn những điều thanh cao, cho nên còn gọi là Sơ thiền là Dục Thanh.

- Nhị Thiền ( Ðịnh sanh hỷ lạc): Do tâm thanh tịnh, thường ở trong định nên phát khởi niềm vui.

- Tam Thiền (Ly hỷ diệu lạc): Hành giả lìa bỏ cái vui thô (hỷ) để đi sâu vào cảnh giới thanh tịnh, phát sinh cảm giác diệu lạc.

- Tứ Thiền (Xả niệm thanh tịnh): Do buông xả hoàn toàn nên được nhất tâm thanh tịnh. Nếu có duyên với Ðại thừa, vị ấy ngộ được Chân tâm, lần lượt tu tập theo các đạo quả Bồ-đề. Nếu không gặp Thiện tri thức, vị âý lạc vào Tứ Thiền Không, an trú vào cảnh thanh tịnh ấy mà quên mất Bổn tâm, diệt chủng Bồ-đề.

Trở lại con đường của Sa-môn Gotama, vào đêm thứ 49 của giai đoạn thiền quán dưới cội cây Pippala với lời tuyên bố sấm sét, và là đêm cuối cùng của chặng đường ruổi rong tìm đạo.

An trú tâm vào giờ phút hiện tại, Ngài bắt đầu phóng ánh sáng trí tuệ soi thấu vào tận cùng ngõ ngách của tâm thức. Vào cuối canh ba, Ngài thấy rõ những kiếp sống của chính mình đã trải qua từ vô thủy; trí huệ này gọi là Túc mạng minh. Cuối canh tư, Ngài thấy tất cả chúng sanh cùng khắp pháp giới, sau khi chếât lại theo nghiệp thọ sanh nơi khác; thấy rõ ràng như người đứng trên lầu cao nhìn xuống ngã tư đường. Cái thấy này gọi là Thiên nhãn minh hay Sanh tử trí; do Ngài đã sống được với bản tâm thanh tịnh thường nhiên, vốn trùm khắp vũ trụ vạn hữu, không có gì ra ngoài bản tâm.

Tiếp tục việc khám phá mọi bí mật của thân tâm và vạn pháp, đến canh năm Ngài thoát khỏi Dục lậu, Hữu lậu vàVô minh lậu. Không còn Dục lậu, tâm Ngài không tham đắm bất cứ dục lạc nào của trần thế. Không còn Hữu lậu, Ngài không ưa thích bất cứ cảnh giới nào, dù là cõi Trời cao nhất trong Tam giới. Không còn Vô minh lậu, Ngài phá tung được ngục tù tối tăm ngàn đời, giam hãm chúng sanh trong si mê, phiền não, từ đó mãi mãi tạo nghiệp và mãi mãi lăn lộn trong ba cõi sáu đường. Chứng được Lậu tận minh, thành tựu Viên mãn giác, hoàn toàn đẩy lùi tất cả lậu hoặc vô minh, Sa-môn Gotama trở thành Ðức Phật Thích-Ca Mâu Ni, là bậc Thầy của muôn loài chúng sinh trong tam giới. Bấy giờ là cuối canh năm của một ngày mùng 8 tháng chạp, năm Ngài được 35 tuổi.

Và đây là khúc ca khải hoàn của một người vừa đạt được chiến công oanh liệt nhấât - chiến thắng chính bản thân mình. Sau khi thành Phật, Ngài đã dõng dạc tuyên bố: “Ta đã được giải thoát, sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc làm đã xong, đã đặt gánh nặng xuống, không còn trở lui trạng thái này nữa !". Ðã được giải thoát nghĩa là sáu căn không còn dính mắc với sáu trần, khi đối duyên xúc cảnh không còn sanh tâm khởi niệm. "Sanh đã tận" là vĩnh viễn không còn tiếp nối sanh tử, hoàn toàn thoát khỏi lục đạo luân hồi. "Phạm hạnh đã thành" là tâm Ngài không còn Dục lậu, Hữu lậu và Vô minh lậu. "Việc làm đã xong" nghĩa là công phu đến đây đã hoàn toàn không còn khởi tâm dụng công, là vô công dụng hạnh. "Ðã đặt gánh nặng xuống" là không còn chấp thân năm uẩn này là tôi, của tôi và tự ngã của tôi. Theo Kinh Pháp Cú, thân năm uẩn là gánh nặng. Còn chấp thân tâm này là thật mình, ấy là còn mang gánh nặng trên vai. Người tu phải lần lượt liệng bỏ hết đồ đạc trong gánh, liệng luôn quang gánh và đòn gánh. Ðòn gánh đã liệng, đến cái tâm biết có người liệng và vật bị liệng cũng phải quăng bỏ. Buông sạch đến tận cùng mới thấu triệt tinh thần Vô ngã, ấy là đặt gánh nặng xuống rồi !

Câu cuối cùng của Ðức Phật nghe như hồi kèn chiến thắng, như một khúc anh hùng ca: "Không còn trở lui trạng thái này nữa !" Vàng trong quặng đã được tôi luyện thành vàng ròng không bao giờ trở lại tình trạng quặng. Cũng vậy, người đã hoàn toàn dứt hẳn vô minh phiền não, thì không khi nào còn bị vô minh che mờ Chân tâm hằng tri hằng giác nữa. Do Ðức Phật đã giác ngộ hoàn toàn, viên mãn và tột cùng, nên chúng ta tôn xưng Ngài là Bậc Toàn giác, Viên mãn giác hay Cứu cánh giác. Chỉ có Ðức Phật, người thực hiện viên mãn hạnh tự giác và giác tha, mới được đồng đẳng với chư Phật mười phương, mang đầy đủ 10 pháp hiệu: Như Lai - Ứng Cúng - Chánh biến tri - Minh hạnh túc- Thiện Thệ - Thế Gian Giải - Vô Thượng Sĩ - Ðiều Ngư Trượng Phu - Thiên Nhân Sư - Phật Thế Tôn .

III- Những điều suy gẫm:

Có thể nói, sự thành đạo không những là thời điểm vinh quang, sáng chói nhất của một người tu, từ lúc sơ phát tâm đến khi đạt cứu cánh; mà còn là một sự kiện trọng đại, thiêng liêng đối với muôn loài chúng sanh. Chúng ta đã theo dõi chặng đường tu hành của Ðức Phật, chúng ta cũng thấy rõ những thử thách trở ngại và cả những lần thất bại của Ngài. Từ đó, chúng ta có thể suy gẫm để rút ra những bài học hữu ích gì cho đời tu của chính mình?

Thứ nhất, từ lúc còn là Thái tử sống trong nhung lụa cao sang và trong uy quyền tột đỉnh, Ngài vẫn canh cánh bên lòng những nghi vấn không ai có thể giải đáp được: Con người từ đâu đến, sau khi chết sẽ đi về đâu, và có cách nào thoát khỏi cảnh sanh già bệnh chết? Những nghi vấn này chính là động lực thúc đẩy Ngài rời bỏ cung điện, không nề gian khổ, một lòng tìm đạo. Cũng vì những nghi vấn này mà Ngài quyết định từ giã tất cả các pháp tu của ngoại đạo dù các vị Thầy đánh giá Ngài rất cao, hoặc năm anh em Kiều Trần Như do hiểu lầm mà phỉ báng Ngài. Người tu chúng ta, trước hết cũng phải định cho mình một mục đích. Nếu chưa đạt được mục đích ấy, thì dù có danh vọng quyền thế hoặc ai rẻ rúng khinh chê, chúng ta cũng không thối chí ngã lòng.

Thứ hai, trong bất cứ pháp tu nào, Ngài cũng vượt trội hơn các bạn đồng tu khác. Vì sao được như thế?

Ngoài khả năng sẵn có như thông minh và sức khỏe hơn người, Ngài còn có ý chí, nghị lực và lòng kiên nhẫn vô bờ, từ đó đưa đến sự tinh tấn và sức chịu đựng phi thường. Ðặc biệt là trong sáu năm khổ hạnh, mỗi ngày chỉ ăn một hạt mè hoặc có ngày không ăn tí gì; có lúc đè nén đàn áp vọng niệm bằng cách nín thở .....; dù thân thể hao mòn mà ý chí vẫn xung thiên! Nếu chúng ta một lòng cầu đạo vô thượng, cũng phải học theo gương Ðức Bổn Sư, có ý chí sắt đá và lòng kiên nhẫn trường kỳ, mà Hòa thượng Trúc Lâm gọi là "Tâm kiên cố và trường viễn".

Thứ ba, khi đạt định Phi tưởng Phi phi tưởng, tất cả mọi người đều cho rằng mình đã đến chỗ rốt ráo giải thoát. Chỉ có Ngài bằng trí huệ siêu xuất mới biết rõ tầng thiền định này vẫn còn nằm trong tam giới, vì thế chưa ra khỏi sinh tử. Chúng ta ngày nay trong thời mạt pháp, ngay cả Ðạo sư ngoại đạo chưa chắc đã gặp, huống nữa dễ được gần Hiền Thánh sao? Nếu không có chánh kiến và chánh tín, dễ sa vào đường lầm ngả rẽ. Cho nên, khi dụng công thiền tập, chúng ta phải kết hợp tri thức Phật pháp với kết quả hành thiền, dưới sự dẫn dắt của một vị Thầy có kinh nghiệm. Ðôi khi, tâm mới được đôi phần lặng lẽ, chúng ta cứ tưởng mình đã xong việc. Ðó là chưa có mắt trạch pháp, chỉ như một kẻ mù dẫn cả đám người mù cùng rơi xuống hố. Vị Thầy có kinh nghiệm sẽ kịp thời xua tan những bóng mây chấp trước về kết quả tu tập cho chúng ta, kết hợp với sự đối chiếu trên kinh lục của Ðức Phật và chư vị Tổ sư, như thế đường tu của chúng ta mới khỏi đưa vào ngả rẽ.

Thứ tư, con đường Ðức Phật đã đi là con đường Trung đạo, sau khi rời bỏ hai cực đoan là thụ hưởng dục lạc thế gian trong cung điện, và hành hạ xác thân trong sáu năm khổ hạnh rừng già. Chỉ khi đi theo Trung đạo, Ngài mới thể nhập được chân tâm và thành tựu chánh trí. Chúng ta tu hành, biết thân này là hư giả, là duyên sinh, nên không đam mê ngũ dục; nhưng cũng không vì thế mà làm thân thể tiều tụy hao mòn. Thân xác như chiếc bè đưa ta qua sông, ta không nên ngày đêm tô điểm sơn phết cho nó, nhưng cũng không được phá hoại nó khi chưa đến bờ bên kia. Hơn nữa, thân và tâm có liên hệ hỗ tương với nhau, nếu thân không mạnh khỏe thì làm sao tâm trí có thể an định sáng suốt được?

Thứ năm, chúng ta tự hỏi, Sa-môn Gotama thành Phật có phải do một đấng thần linh hay Thượng đế nào ban cho? Ðây là một điểm rất quan trọng cho chúng ta thấy rõ rằng, là Phật tử chân chính, chúng ta phải luôn luôn thực hiện đúng tinh thần "tự thắp đuốc lên mà đi". Ðức Phật đã nói: "Ta học đạo không có Thầy". Ngài thành Phật là do nỗ lực tự thân để chiến thắng giặc vô minh phiền não, không ai có thể giúp đỡ được cho Ngài. Chúng ta cũng vậy, mỗi người tu đều phải độc hành độc bộ trên con đường phản quan tự kỷ, tự mình nhận ra và sống với bản tâm thanh tịnh của chính mình. Nếu ta không tự cứu mình thì sẽ không ai cứu mình, và mình cũng không cứu được cho ai; nếu mình không an lạc thì không thể nào san sẻ được an lạc cho kẻ khác.

Ðiểm thứ sáu cũng rất quan trọng và liên quan đến lối tu hành của nhiều Phật tử. Từ khi sinh ra đến khi nhập Niết Bàn, chúng ta thấy Ðức Phật hoàn toàn là một con người thật sự, cũng nói năng sinh hoạt như chúng ta, cũng mang bệnh và mắc nhiều tai nạn như bất cứ người nào. Chỉ khác người thường ở chỗ, Ngài là người nhưng đã sạch lậu hoặc phiền não, là người không nhiễm ngũ dục lục trần, là người nhưng đã tỉnh thức và muốn giúp đỡ cho kẻ khác cũng được tỉnh thức như mình. Ðức Phật không phải là một thần linh có quyền ban phước hay giáng họa cho ai. Hiểu Ngài đúng đắn như thế, chúng ta sẽ noi gương Ngài và theo lời Ngài dạy để tu hành, để có đời sống tỉnh thức thường trực như Ðức Bổn Sư của chúng ta. Nếu chúng ta nghĩ Ngài là đấng thần linh, đem lễ vật đến chùa cúng dường để cầu Phật gia hộ mình mạnh khỏe, mua may bán đắt, con cái đỗ đạt..., thì vô tình chúng ta hạ thấp giá trị của Ðạo Phật, vô tình biến ngôi Già lam thành nơi buôn bán làm ăn. Ngôi Tam Bảo đúng nghĩa phải là nơi có Phật, có Chánh pháp và có Tăng đoàn tu hành thanh tịnh. Người Phật tử đúng nghĩa phải đến chùa học hỏi Phật pháp nơi quí Tăng Ni; hiểu được Chánh pháp, phải áp dụng vào công phu tu tập. Nếu chỉ hiểu biết suông mà không gia công tu hành thì chỉ như người ăn bánh vẽ, không bao giờ no; hay người bệnh học thuộc lòng toa thuốc mà không uống thuốc, thì không bao giờ hết bệnh.

Ðiểm cuối cùng là phương pháp tu hành nếu muốn trở thành bậc vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Ðức Phật đã từng nói: "Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành”. Bằng trí tuệ của một người đã giác ngộ viên mãn, Ngài thấy tất cả chúng sanh đều có Phật tánh bình đẳng với chư Phật mười phương, đó là chánh nhân thành Phật. Nếu chúng ta theo đúng đường lối tu tập của Ngài, nhất định có ngày chúng ta sẽ thành tựu Phật quả. Trong suốt bốn mươi chín ngày đêm dưới cội cây Pippala, Ngài đã tu tập thiền định, nhờ chánh niệm mà tâm được thanh tịnh rỗng rang, nhờ quán niệm mà thấu suốt được thật tướng của vũ trụ vạn hữu và ngộ được tự tánh bản lai của chính mình. Ngài thấy vạn pháp đều bình đẳng trong tánh không - không nhưng chẳng phải ngoan không nên là Chân Không; và từ Chân Không khởi ra Diệu Hữu. Chân Không là thể, còn Diệu Hữu là dụng của Tự tánh, của Chân tâm. Giác ngộ có nghĩa cao tột của nó là nhận ra và hằng sống được với Chân tâm ấy. Vì ngộ được Chân tâm, Ðức Phật đã hoàn toàn chấm dứt tất cả vô minh phiền não. Ngài như người đã tỉnh cơn đại mộng, biết rõ bao nhiêu cảnh tượng buồn vui đổi dời trong vô lượng kiếp chỉ là giấc mộng đêm qua. Kinh Pháp Cú 153 - 154 có ghi:

Trải qua bao kiếp sống

Ta tìm mà chẳng gặp

Người xây cất nhà này

Khổ thay kiếp luân hồi !

Người cất nhà đã lộ

Không còn cất nhà nữa.

Tất cả rui mè gãy

Kèo cột cũng bị nát.

Tâm ta đại tịch diệt,

Ái dục thảy tiêu tan.

Bao nhiêu kiếp sống lang thang trong vòng luân hồi vì không tìm được kẻ đã xây nhà năm uẩn. Hôm nay, kẻ cất nhà đã lộ mặt, đó chính là vô minh tham ái, là động lực tạo nghiệp để thọ thân sau. Khởi đầu, vô minh là chấp cái thân tứ đại là mình, chấp cái tâm vọng tưởng lăng xăng là thật mình; bây giờ biết rõ thân chỉ là giả hợp, vọng tưởng là sinh diệt không thật có, chúng ta không chạy theo nó. Không chạy theo vọng tưởng tức dừng được ý nghiệp, thì thân và khẩu còn cách gì tạo nghiệp nữa? Khi tâm đã hoàn toàn thanh tịnh, ái dục hoàn toàn tiêu tan do vọng tưởng không còn hoành hành trong tâm thức, ta có thể tuyên bố, rui mè và kèo cột của căn nhà, tức thân và tâm của nhà năm uẩn không còn cơ hội tái sinh.Vòng luân hồi sinh tử đã bị đoạn trừ !

Như vậy, Ðức Phật nhờ nỗ lực Thiền định mà thành đạo. Chúng ta là con Phật, nguyện sẽ đi theo con đường của Ngài, để có một ngày cũng như Ngài, hát lên bài ca chứng đạo. Thật ra, nếu tâm ta thanh tịnh thì Phật hiện diện trong tâm ta; nếu tâm còn lậu hoặc phiền não thì Phật đã cách xa ta ngàn trùng. Khi sống được với Phật tâm thanh tịnh của chính mình, ta sẽ hiểu rõ lòng từ bi và trí huệ của chư Phật.

Nhân ngày Ðức Phật thành đạo, không gì hơn là chúng ta phải biết được ý nghĩa của giờ phút thiêng liêng, khi Ngài triệt chứng dưới cội cây Pippala, đạt đạo quả vô thượng. Chúng ta tôn thờ qui ngưỡng Ðức Phật cũng là trở về với nội dung tâm chứng của Ngài. Muốn vậy, chúng ta phải biết rõ Ngài ngộ đạo như thế nào, và bây giờ chúng ta nên dụng công ra sao. Ðức Phật cũng là một chúng sanh, nhưng là một chúng sanh hy hữu, duy nhất đã phá trừ tập khí phiền não đến tận gốc rễ, đã thoát vòng sinh tử luân hồi, đã thể nhập thật tướng của vũ trụ vạn hữu. Chư Thiên và loài người kể từ ngày Ngài thành đạo, đã thấm nhuần ơn pháp vũ của Ngài. Chúng ta tuy sinh ra nhằm thời mạt pháp, nhưng may mắn vẫn còn được nghe và được tu hành theo chánh pháp. Mong rằng tất cả chúng ta cùng tinh tấn công phu, nỗ lực đẩy lùi vô minh tập khí, can đảm vượt qua bao nhiêu ma chướng đến từ bên ngoài và cả bên trong. Chúng ta cũng nguyện đem tất cả công đức tự lợi và lợi tha của mình, hồi hướng cho chúng sanh cùng khắp pháp giới, đều thành tựu Phật quả. Có như thế, chúng ta mới thật sự kính ngưỡng tôn vinh Ðức Bổn Sư, mới có thể đền đáp ơn khó đền của Ngài trong muôn một. 

 

CON ÐƯỜNG TRUNG ÐẠO

           

Ngày mùng tám tháng chạp hàng năm, Phật tử vân tập về chùa dự lễ mừng ngày thành đạo của Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni. Nhưng khi được hỏi, Ðức Phật đã đi theo lộ trình nào, nội dung tâm chứng của Ngài là gì, Ngài thành tựu quả vị tột cùng ra sao, thì có nhiều người chưa hiểu tường tận. Mà nếu chưa rõ con đường Ngài đã đi và đã đến đích, làm sao chúng ta có thể đi theo Ngài, tu hành có kết quả?

Vì thế, nhân ngày Ðức Bổn Sư thành đạo, chúng ta hãy cùng tìm hiểu quá trình tu tập của Ngài trong suốt 49 ngày đêm thiền định dưới cội cây Tất-bát-la, bên dòng sông Ni-liên-thuyền, cách đây hơn 25 thế kỷ. Từ đó chúng ta có thể rút ra những bài học bổ ích cho mình, tinh cần bước theo dấu chân Ngài để đạt mục đích cuối cùng của đời tu, là giác ngộ và giải thoát.

Lúc còn ở trong cung vua, Thái tử Sĩ Ðạt Ta hưởng thụ mọi dục lạc, với danh vọng quyền uy tột đỉnh. Ðối với người bình thường, không còn gì hơn thế nữa. Nhưng đối với Thái tử, người đã có căn cơ tu hành kỳ đặc, những thú vui trần thế chỉ là ràng buộc, là cạm bẫy chứ không phải là hạnh phúc đích thực. Khi gặp các cảnh già, bệnh, chết nơi cửa thành, Ngài suy gẫm về con người, về cuộc đời, thấy rõ sự tạm bợ mong manh của kiếp sống. Ngài luôn bị dằn vặt bởi ba câu hỏi lớn: “Con người từ đâu sinh ra? Sau khi chết đi về đâu? Có cách nào thoát khỏi vòng sinh tử?”. Vì thế, bỏ lại sau lưng cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con xinh, rời cả phụ vương già yếu và di mẫu kính yêu, Ngài vượt thành xuất gia, mong tìm đạo để cứu mình giúp đời.

Trở thành Samôn Cù Ðàm, Ngài tu học với các vị tiên nhơn, đạt các mức thiền định Không Vô biên xứ, Thức Vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ, là những tầng thiền cao nhất lúc bấy giờ. Nhưng Ngài chưa thỏa mãn với các trạng thái tâm chứng ấy, vì chúng chưa giúp Ngài giải quyết hoàn toàn những vấn đề dằn vặt từ lâu. Cùng với năm anh em Kiều Trần Như, Ngài thực hành pháp tu khổ hạnh, tinh chuyên đến độ thân hình chỉ còn da bọc xương. Ròng rã sáu năm trời, thể xác kiệt quệ, tinh thần u ám, Ngài vẫn không tìm ra lối thoát.

Bằng kinh nghiệm thất bại của bản thân, Sa-môn Cù Ðàm đã nhận ra rằng: Ở cực đoan thứ nhất, đời sống lợi dưỡng và cám dỗ của ngũ dục thường làm con người trở nên yếu hèn nhu nhược, làm cản ngăn tiến bộ đạo đức tâm linh. Ở cực đoan thứ hai, quá khổ hạnh ép xác làm thân thể hao mòn, sinh nhiều bệnh tật, ảnh hưởng không tốt đến tinh thần. Thân và tâm là hai thành tố liên hệ chặt chẽ với nhau trong một cơ thể con người. Nếu ăn uống điều độ, vận động hợp lý, sức khỏe sẽ tăng tiến, tinh thần sáng suốt và tâm dễ an định khi tọa thiền. Ngài nhớ ngày theo phụ vương dự lễ hạ điền, năm mới chín tuổi. Nhìn thấy những con giun đất quằn quại dưới lưỡi cày, lại bị chim sà xuống tha đi, Thái tử buồn bã đến ngồi dưới gốc cây hồng táo, chiêm nghiệm về sự cạnh tranh sinh tồn và lẽ vô thường của vạn vật. Trầm tư quán tưởng một thời gian kháù lâu, quên hết quang cảnh chung quanh, vị Thái tử chín tuổi đã chứng được Sơ thiền không mấy khó khăn. Trạng thái này, Ngài đã không tìm lại được trong sáu năm đày đọa thân xác, chứng tỏ phép tu khổ hạnh không đem lại kết quả thiết thực cho đời tu của Ngài. Vì thế, Ngài quyết định theo con đường trung đạo: Ăn uống ngủ nghỉ vừa phải theo nhu cầu tối thiểu của bản thân, đồng thời nỗ lực công phu thiền tập. Ngài tự mình làm thầy cho chính mình, sử dụng niềm an lạc do thiền định đưa đến làm thức ăn cho thân tâm.

Nhờ quyết định đúng đắn này, Samôn Cù Ðàm lấy lại được sức khỏe cho thân xác và sự minh mẫn cho tinh thần. Ngài dành hết thì giờ và tâm trí vào việc hạ thủ công phu, tọa thiền dưới gốc cổ thụ liên tiếp trong 49 ngày đêm ròng rã, sau lời thề nguyền sấm sét: “Ta ngồi nơi đây gia tâm thiền định, dù thịt nát xương tan, nếu chưa chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, ta quyết không rời khỏi chỗ này”.

Ðầu tiên Ngài chú tâm vào hơi thở, trong trạng thái giác quán (tầm tứ), Ngài lìa cả năm dục. Tâm lần lần an định và phát sinh niềm vui như đã đạt được trong buổi lễ hạ điền thuở trước. Ðây là mức Sơ thiền, Ly sanh hỉ lạc, do lìa sự tham đắm ngũ dục nên được niềm hỷ lạc trong thiền định. Tiếp tục bám sát hơi thở, đi sâu vào hơi thở, Ngài đẩy lui tầm tứ. Tâm thanh tịnh trong mức định sâu, phát khởi niềm vui vô biên của Nhị thiền, Ðịnh sanh hỷ lạc. Vào định sâu hơn, Ngài nhận rõ rằng, niềm vui của thiền định ở những bước đầu, tuy thù thắng hơn cái vui trần thế, nhưng nếu chấp trước vào đó sẽ là chướng ngại trong công phu. Cho nên, Ngài buông xả cái vui thô ấy, tiếp tục đi sâu vào cảnh giới thanh tịnh, hưởng được cảm giác diệu lạc là niềm vui vi tế của Tam thiền, tức Ly hỷ diệu lạc. Ðến khi thân tâm và hơi thở hòa nhập trong trạng thái nhất như, Ngài buông xả hoàn toàn mọi ý niệm thế gian và cả những niềm vui xuất thế. Ðược nhất tâm thanh tịnh, Ngài chứng tứ thiền là Xả niệm thanh tịnh.

Bốn cảnh giới từ Sơ thiền đến Tứ thiền, tuy là kết quả dành cho những hành giả thoát ly ngũ dục và chuyên tu thiền định, nhưng vẫn còn thuộc cõi trời Sắc giới, chưa thoát khỏi luân hồi. Chưa đạt đến ý nguyện, Samôn Cù Ðàm vẫn kiên trì thiền định dưới cội cây Tất Bát La ngày này qua ngày khác, dùng ánh sáng chánh niệm chiếu soi thân tâm và toàn thể vũ trụ. Ðến đêm thứ 49, đêm cuối cùng của chặng đường tìm đạo, sự kiên nhẫn phi thường và ý chí xung thiên của Ngài đã được đền bù xứng đáng. Vào cuối canh ba, do chánh niệm sung mãn đưa đến định lực mạnh mẽ và trí huệ siêu xuất, Ngài thấy rõ những kiếp sống đã qua của mình trong vô lượng kiếp. Ðây là tuệ giác đầu tiên trong đêm thành đạo, gọi là Túc mạng minh. Ðến cuối canh tư, Ngài thấy tất cả chúng sanh trong khắp pháp giới, sau khi bỏ thân này lại theo nghiệp thọ sanh nơi khác, mãi mãi không cùng tận. Cái thấy này là Thiên nhãn minh hay Sanh tử trí, diệu dụng của bản tâm thanh tịnh hằng giác hằng tri.

Vì sao Sa-môn Cù Ðàm thấy rõ những kiếp quá khứ của mình và của chúng sanh từ vô thủy, vượt xa tất cả những bậc đạo sư đương thời?

Khi hồ nước đục ngầu, người đứng trên bờ không thấy gì ở dưới đáy hồ; nhưng khi nước hồ trong vắt, tất cả động thực vật dưới ấy đều hiện rõ. Hồ tâm của chúng sanh bị bụi phiền não tham sân si làm vẩn đục, chỉ nhận được hiện tượng trước mắt và một phần nhỏ cảnh đời đã qua của bản thân mình. Khi phiền não nhiễm nhơ dứt sạch, hồ tâm trong sáng, hành giả thấy rõ ràng những sự kiện xảy ra từ vô lượng kiếp quá khứ, không những của chính mình mà còn của toàn thể vũ trụ và chúng sanh. Tâm của Ngài nhuần nhuyễn tịch lặng, cái thấy của Ngài là do trực giác phóng xuất, nên không có gì ngăn ngại, siêu vượt cả thời gian và không gian.

Tiếp tục lặn sâu vào các cõi miền của tâm thức để khám phá hết những bí mật ngàn đời của tự thân và vạn pháp, Sa-môn Cù Ðàm thoát khỏi Dục lậu, Hữu lậu và Vô minh lậu, phá tan ngục tù vô minh tăm tối, quét sạch tận cùng những phiền não lậu hoặc. Ánh sáng bừng lên, ngôi nhà lập tức thoát khỏi bóng đêm vĩnh kiếp; ánh sáng giác ngộ chiếu soi cùng khắp pháp giới, Ngài vĩnh viễn thoát khỏi phiền não vô minh, vĩnh thoát sinh tử luân hồi! thành tựu Viên mãn giác, chứng Lậu tận minh, Sa-môn Cù Ðàm thành Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni, bậc Chánh đẳng giác trên tất cả trời người và các đạo sư ngoại đạo. Bấy giờ là cuối canh năm, lúc sao Mai vừa mọc, năm Ngài được 35 tuổi.

Trở thành Bậc Giác ngộ, Ngài đã giải đáp được ba vấn đề trọng đại về sinh tử đeo đẳng Ngài suốt bao nhiêu năm. Ðây là khúc ca khải hoàn của một người vừa đạt được chiến công oanh liệt nhất - tự chiến thắng chính mình: “Ta đã được giải thoát, sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc làm đã xong, đã đặt gánh nặng xuống, không còn trở lui trạng thái này nữa. Như vậy, ta là Phật!” Vì không còn dính mắc với sáu trần, tâm không khởi niệm khi đối duyên xúc cảnh, nên ngài không còn tạo nghiệp để quẩn quanh trong vòng sanh tử. Tâm đã sạch phiền não lậu hoặc, không còn chấp ngã và ngã sở, công phu của Ngài đến đây đã hoàn tất và không bao giờ còn bị vô minh che mờ tự tánh hằng tri hằng giác. Do sự giác ngộ của Ngài đã viên mãn và tột cùng, nên Ngài là Phật !

Ðức Phật lại nói: “Pháp này do ta chứng được thật là sâu kín, khó thấy khó chứng, tịch tịnh cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người có trí mới hiểu thấu. Còn quần chúng này thì ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó thấy được định lý Y tánh duyên khởi pháp, thật khó thấy được định lý tất cả hành là tịch tịnh, tất cả sanh y (ngũ uẩn) được trừ bỏ, ái được đoạn tận, ly dục, ái diệt, Niết Bàn”. Nếu không có công phu thiền tập, không có những giây phút trong trạng thái yên ổn vô tâm, ta sẽ không hiểu nổi trạng thái tâm chứng của Ðức Phật. Chúng sanh mãi dong ruổi theo trần cảnh, ham thích ái dục nên bị nghiệp lôi dẫn, không thể nào thấy được định lý Y tánh duyên khởi pháp. Nhìn một cành hoa bằng chánh niệm, ta thấy hoa do nhiều duyên hợp lại mà thành: hạt giống, đất, nước, ánh sáng mặt trời..., nên nó là một pháp do duyên khởi. Hoa còn duyên thì nở, hết duyên lại tàn. Nhưng dù tàn hay nở, hoa vẫn không ngoài tự tánh chân như bất động. Các pháp đều từ tự tánh bất sinh ấy mà sinh ra, từ tự tánh bất diệt ấy mà diệt đi. Pháp có sinh có diệt, nhưng tự tánh của các pháp chưa từng sinh diệt bao giờ. Tự tánh của các pháp là không, vì duyên hợp nên tạm có, nên Sắc tức thị không - tinh thần của Bát Nhã. Và vì các pháp hiện khởi từ tự tánh không, nên gọi là Y tánh duyên khởi pháp.

Vì sao “tất cả hành là tịch tịnh?” Các pháp luôn luôn biến đổi không ngừng nên gọi là hành. Nhưng trong dòng luân lưu bất tận ấy, trong cái sinh diệt vô thường ấy vẫn có một sát na bất động vĩnh hằng, vẫn có cái chân thường hằng hữu. Các pháp dù đang sinh, vẫn không ra khỏi thể bất sinh; dù đang diệt vẫn không ngoài thể bất diệt. Các pháp trùng trùng duyên khởi, nhưng từ chỗ phi duyên mà khởi các duyên, từ chỗ không mà thành có tướng. Ðây là điều rất sâu xa huyền diệu và khó tin khó hiểu, chúng ta phải lắng sâu tâm thức, an định trong thiền mới có thể nhận được đôi phần.

Ðức Phật là bậc vô sư tự ngộ. Ngài đã từng bảo, Ngài thành tựu đạo quả là do tự mình nỗ lực chứ không có thầy, càng không có một đấng quyền năng nào giúp đỡ. Tinh thần tự lực của đạo Phật là một đặc điểm hiếm có trong các tôn giáo, chứng tỏ những gì Phật dạy đều từ chỗ Ngài thấy được, chứng được trong đêm thành đạo, chứ không do suy diễn ước đoán. Khi tâm luôn an trú trong giờ phút hiện tại, nhận biết mọi sự vật hiện tượng như chúng đang là, không khởi một niệm phân tích hai bên (có - không, đẹp - xấu...), chúng ta sẽ có cái thấy, cái biết như thật mà Ðức Phật gọi là Như thị tri - Như thị kiến. Giác ngộ chính là lãnh hội thực tại bằng trực giác, không qua trung gian suy luận phân biệt nhị biên; chính là kết quả công phu nỗ lực tự thân, chứ không phải và không thể là sự ban ơn của thần linh hay của chư Phật Bồ Tát.

Vậy, học đạo là học những gì? Hành đạo, chứng đạo là hành và chứng được gì? Ðức Phật trong suốt 49 ngày đêm, chỉ một bề chánh niệm tỉnh giác soi rọi tất cả mọi ngõ ngách sâu thẳm của tâm, và quán niệm tất cả những hiện tượng thành hoại sinh diệt của toàn thể vũ trụ vạn pháp. Nội dung của chánh niệm là không để tâm dong ruổi về quá khứ hay theo đuổi tương lai, mà luôn an trú vào hiện tại. Khi tâm an định, bất động nơi đương xứ, một lúc nào đó ta sẽ chợt nhận ra rằng: Học đạo là học nơi tâm, hành đạo và chứng đạo cũng ở nơi tâm chứ không đâu khác. Ta cũng chợt nhận ra sát na bất động vĩnh cửu chứa đựng muôn kiếp sinh diệt, một hạt bụi dung nhiếp tam thiên đại thiên thế giới. Sát na và hạt bụi ấy chỉ có mặt nơi đương xứ - tại đây và bây giờ. Nếu không có chánh niệm, nếu tâm không có mặt ở thời điểm tại-đây-và-bây-giờ, thì không đạo có thể học, không đạo có thể hành, không đạo có thể chứng. Ðây là điều thiết yếu và cốt lõi của sự tu hành.

Nhân ngày thành đạo của đức Bổn Sư, chúng ta noi theo gương Ngài, tự mình thắp sáng ngọn đèn chánh niệm để thấy biết như thật mọi hiện tượng sinh diệt của thân tâm và cảnh, từ đó nhận ra và sống với bảm tâm thanh tịnh thường nhiên của chính mình. Có trí tuệ, tự nhiên sẽ có tình thương bình đẳng đối với muôn loài chúng sanh, chúng ta sẽ phát nguyện noi theo gương Ngài, đem chánh pháp làm lợi ích quần sanh. Có trí huệ tất có từ bi, sau đó phát sinh hạnh nguyện: ba đức tính này làm nên nhân cách của một bậc giác ngộ. Khi tự giác - giác tha - giác hạnh đều viên mãn, bậc giác ngộ được tôn xưng là Phật - Thế Tôn, và ngày thành đạo là dấu ấn quan trọng nhất trong đời tu của các Ngài. Nếu chưa thành tựu đạo quả, các Ngài chưa là Phật, chúng sanh cũng chưa thấm nhuần được ơn pháp vũ. Cho nên có thể nói, không có ngày thành đạo thì không có Phật, không có chánh pháp, không có chư Tăng Ni nối truyền mạng mạch Phật pháp, cũng không có hàng Phật tử. Chúng ta chú trọng đến Tam Bảo, đến sự hưng thịnh của đạo Phật thì thiết nghĩ, cần xem ngày Ðức Phật thành đạo là ngày lễ lớn - nếu không muốn nói là ngày lễ lớn nhất - trong tất cả các ngày kỷ niệm của tôn giáo chúng ta.

 

BỐN MƯƠI CHÍN NGÀY  THIỀN ÐỊNH

 

“Như hoa sen đẹp đẽ và dễ thương không ô nhiễm bùn nhơ nước đục, giữa chốn bụi trần Ta không vướng chút bợn nhơ. Như vậy, Ta là Phật”. Ðây là khúc ca khải hoàn của một người vừa chiến thắng trận cuối cùng trong cuộc trường chinh gian khổ, chiến đấu với kẻ thù phiền não ngay trong chính bản thân mình.

Ðể có một ngày vang lên khúc ca lịch sử ấy, Ðức Bổn Sư của chúng ta đã phải trải qua sáu năm ròng rã nỗ lực công phu, không có một sự hỗ trợ nào bên ngoài, không một năng lực siêu phàm nào ban phước. Ðến khi sức cùng lực kiệt, Ngài hiểu rằng con đường mình đã theo những người đi trước không giải đáp được vấn nạn lớn của đời mình, là thoát ly sinh tử. Ngài quyết định tự mình làm thầy cho chính mình, tự tìm cho mình một lối đi riêng. Sau khi dùng món ăn gồm gạo và sữa do nữ thí chủ Sujàtà dâng cúng, sức khoẻ phục hồi. Ngài trải qua bốn mươi chín ngày đêm hành trì dưới cội cây Tất Bát La bên bờ sông Ni Liên Thuyền, cuối cùng thành tựu đạo quả vô thượng.

Nhân kỷ niệm ngày thành đạo của Ðức Bổn Sư, chúng ta sẽ đi theo dấu chân Ngài qua bảy tuần công phu ấy. Dĩ nhiên, đây chỉ là sự khảo sát bên ngoài, còn những biến chuyển trong nội tâm Ngài thì làm sao ta có thể hiểu thấu, như Kinh Lăng Già đã nói: “Cảnh giới tự chứng của trí tuệ bậc Thánh, hàng phàm phu và Nhị thừa không thể với đến được”.Tuy vậy, những gì gặt hái được khi tìm hiểu về con đường tìm đạo và chứng đạo của Ngài, là những điểm sáng trọng yếu để chúng ta noi theo trên bước đường tu tập.

1-Tuần thứ nhất:

Suốt bảy ngày đêm, Ðức Bổn Sư ngồi bất động dưới cội cây Tất Bát La, chứng nghiệm hạnh phúc siêu thoát. Một điều trong kinh không ghi rõ, hạnh phúc này thuộc tầng thiền định nào trong Tứ Thiền Bát Ðịnh. Ðến đêm cuối cùng, Ngài xuất thiền, ngồi suy niệm về mười hai nhân duyên theo hai chiều thuận nghịch.

Suy niệm theo chiều thuận, Ngài giải đáp được câu hỏi:“Vì sao có sanh tử luân hồi?”. Do chúng sinh vô minh nên có hành nghiệp; không biết tất cả các pháp đều là duyên hợp không thật có, nên khi tiếp duyên xúc cảnh luôn sanh thức tâm phân biệt. Lúc lìa đời, theo nghiệp thọ sanh vào bào thai gọi là danh sắc, bắt đầu một kiếp khác. Con người khi sinh ra đã có đủ sáu căn (lục nhập), tiếp xúc với sáu trần và dính mắc nên sinh những cảm giác (xúc sanh thọ). Có cảm thọ tất có ái luyến đam mê, từ đó sanh tâm chấp thủ và muốn chiếm hữu. Hữu là điều kiện thọ sanh trong ba cõi nên gọi là Dục hữu, Sắc hữu, và vô sắc hữu, tạo nghiệp và lại theo nghiệp tiếp tục vào vòng sanh tử (sanh). Có sanh lại có già chết (lão tử). Cứ thế luân chuyển mãi không dừng. Toàn bộ sự đau khổ của thế gian sanh khởi theo phương thức ấy, yếu tố trước là nguyên nhân của yếu tố sau.

Muốn đoạn trừ đau khổ ấy, phải đoạn trừ nguyên nhân. Suy niệm theo chiều nghịch, Ngài thấy rõ rằng, nếu Vô minh diệt thì Hành diệt. Tương tự cho các yếu tố khác, cho đến Sanh diệt thì Lão tử diệt; nếu chặt đứt một mắc xích trong mười hai nhân duyên thì chấm dứt luân hồi. Ngài đã trả lời câu hỏi thứ hai “Làm thế nào giải thoát sanh tử?”. Từ đó những phương pháp công phu trong Ðạo Phật đều có mục đích cuối cùng là giải thoát, và căn bản trên sự đoạn trừ một trong những mắc xích quan trọng: hoặc đoạn trừ Vô minh, tức giác ngộ bản tâm thanh tịnh; hoặc đoạn trừ vọng tưởng tức Hành diệt thì Thức diệt, không còn tạo nghiệp; hoặc đoạn tận Tham ái thì Thủ Hữu không còn...

Chấm dứt tuần đầu tiên, Ðức Bổn Sư thấu triệt Lý Duyên Sinh, tức Tánh Không theo tinh thần Bát Nhã hay Lý Trùng Trùng Duyên Khởi theo tinh thần Hoa Nghiêm. Ngài tóm tắt bằng bốn câu kệ, nghĩa như sau:

Cái này có thì cái kia có

Cái này không thì cái kia không.

Cái này sanh thì cái kia sanh

Cái này diệt thì cái kia diệt.

2- Tuần thứ hai:

Trong tuần này, Ðức Bổn Sư không toạ thiền, Ngài đứng ra xa, lặng yên nhìn cây Tất Bát La không chớp mắt.

Tư thế đứng lặng yên, nhìn mãi cái cây đã che mưa đỡ nắng cho Ngài, là một hình ảnh rất cảm động và có ý nghĩa giáo dục sâu xa. Bài học thứ nhất là một bài học luân lý sinh động về lòng biết ơn và đền ơn. Ðối với loài vô tình đã trợ duyên cho Ngài tu tập, Ngài còn tỏ lòng tri ân như thế, huống chi giữa người với người, sao không thể cư xử tốt đẹp có tình có nghĩa cùng nhau? Nếu không có đạo đức làm người, thì làm sao nghĩ đến chuyện thành Phật tác Tổ?

Bài học thứ hai, một người đã chứng nghiệm hạnh phúc xuất thế vẫn không lãng quên thế giới hiện thực, không phá hoại các pháp thế gian. Những bậc ngộ đạo vẫn ở trong cuộc đời nhiêu ích quần sanh, vẫn toả sáng cho đời bằng nhân cách cao cả, bằng trí tuệ siêu xuất và bằng đạo đức tuyệt vời của mình. Bởi vì, “Thật tế lý dịa bất thọ nhất trần, Vạn hạnh môn trung bất xả nhất pháp”, đối với chân lý tuyệt đối thì không thọ một mảy trần, nhưng trong muôn hạnh cứu độ chúng sanh thì không bỏ một pháp nào.

Về sau, vua A Dục đã cho xây tại đây một cái tháp kỷ niệm. Từ cây Tất Bát La này, nhiều nơi trên thế giới đã đem giống về trồng để tỏ lòng tôn kính chiêm ngưỡng. Noi gương Ðức Bổn Sư, những hàng môn đệ của Ngài nếu ngồi nghỉ dưới một bóng cây, trước khi đi phải biết ơn cái cây đã cho mình bóng mát.

3-Tuần thứ ba:

Chư Thiên quan sát thấy Ðức Bổn Sư vẫn còn ở dưới cội cây. Các vị không thể hiểu thấu tâm lượng của một Bậc giác ngộ, nên khởi tâm nghi: “Chẳng biết Bồ Tát đã chứng đạt quả vị tột cùng chưa?”.

Ðức Bổn Sư lúc bấy giờ đã có thần thông, biết rõ tâm niệm của chư Thiên, nên biến hoá một con đường bằng ngọc báu trãi dài trên không trung, Ngài đi kinh hành trên con đường đó trong suốt tuần lễ. Chư Thiên vô cùng vui mừng, mưa hoa cúng dường, nhạc trời trổi lên tán thán ca ngợi Ngài không dứt.

4-Tuần thứ tư:

Ngài bắt đầu suy niệm về những điểm sâu mầu tinh tế của Tạng Luận, giáo lý vi diệu cao siêu của chư Phật ba đời.

Nhìn theo khía cạnh lịch sử, Ðức Phật Thích Ca thành đạo cách đây trên hai mươi lăm thế kỷ. Nhưng đứng về phương diện tâm chứng, Ngài tu Bồ tát đạo hành Bồ tát hạnh đã ba A-tăng-kỳ-kiếp. Do vậy, giáo lý của Ngài đã cao tột, tất cả Tạng Luận Ngài đều thông hiểu và nhớ rõ không sai sót một điều. Lúc này Ngài lắng sâu tâm thức, chiêm nghiệm đến tận những chỗ thâm sâu tột cùng của giáo lý; và khi suy niệm về Lý Nhân Quả Tương Quan, quyển thứ bảy của Tạng Luận, tâm Ngài trở nên hoàn toàn thanh tịnh. Ngay khi ấy toàn thân Ngài phát hào quang rực rỡ sáng chói với sáu màu: xanh dương, vàng, đỏ, trắng, cam và một màu đặc biệt gồm năm màu trên pha lẫn lại.

5-Tuần thứ năm:

Trong tuần này, Ðức Bổn Sư lại toạ thiền dưới cội cây và chứng nghiệm hạnh phúc giải thoát siêu thế. Vào ngày thứ bảy, một vị Bà La Môn ngã mạn đến hỏi Ngài:

- Này Tôn giả Cồ Ðàm, thế nào là một bậc Thánh nhân? Những điều kiện nào làm ta trở thành bậc Thánh nhân?

Ngài bình thản đáp:

- Người nào xa lánh tất cả những điều xấu xa tội lỗi, không có tâm ngã mạn, đã thanh lọc mọi ô nhiễm, thu phục sáu căn, thông suốt mọi pháp học, chân chánh sống đời phạm hạnh, người ấy được tôn là bậc Thánh nhân, người ấy không còn sự bồng bột, dù ở bất cứ nơi nào trên thế gian.

Ðiều kiện trở thành Thánh nhân, trước tiên là phải tránh xa những điều bất thiện tội lỗi làm hại cho mình và cho người. Năm giới không sát- không đạo - không dâm- không vọng- không tửu, dành cho hàng cư sĩ tại gia chính là bước đầu căn bản của đạo đức làm người; cũng nhân ý nghĩa xa lánh mọi điều xấu xa bất thiện. Hai điều kiện đặc biệt trong lời dạy của Ðức Bổn Sư là thu phục sáu căn và không còn sự bồng bột. Con người chúng ta, khi thấy sắc liền khởi niệm phân biệt đẹp xấu, tai nghe tiếng liền có ý khen chê hay dở ... Những ý niệm phân biệt ấy dẫn dắt chúng ta tạo nghiệp, quẩn quanh trong sinh tử. Cho nên, sáu căn dính mắc sáu trần là nhân trầm luân nơi ba cõi; nếu các căn vẫn tiếp xúc với trần cảnh mà không khởi ý phân biệt, ấy là nhân giải thoát. Thánh nhân thu phục sáu căn không phải quay lưng với trần tục, các Ngài vẫn đối duyên xúc cảnh mà luôn an nhiên tự tại.

Vua Trần Nhân Tông có bài kệ:

Niên thiếu hà tằng liễu sắc không,

Nhất xuân tâm sự bách hoa trung.

Như kim khám phá Ðông hoàng diện,

Thiền bản đồ đoàn khán truỵ hồng. 

Nghĩa:

Thuở bé chưa từng rõ sắc không,

Xuân về hoa nở rộn trong lòng.

Chúa xuân nay bị ta khám phá,

Chiếu trải giường Thiền ngắm cánh hồng.

Thời niên thiếu bồng bột, chạy theo cảnh sắc âm thanh bên ngoài, nên khi xuân về, ai cũng thấy lòng rộn rã. Bậc Thánh nhân thấu rõ lý Ðạo, tâm bất động an nhiên trước mọi thăng trầm thịnh suy của cuộc sống. Vì thế, dù hoa nở hay tàn phai, “chúa xuân” vẫn vĩnh viễn thường còn.

6-Tuần thứ sáu:

Trời bỗng nhiên tối sầm, giông bão nổi lên dữ dội, mưa trút xuống như thác. Ðức Bổn Sư vẫn ngồi tĩnh toạ, thể nhập tự tánh thanh tịnh bản lai.

Ngay lúc ấy, Mãng Xà Vương Mucalinda xuất hiện, dùng thân quấn quanh Ngài bảy vòng, rồi dùng đầu làm mái che mưa cho Ngài. Nhờ thế, toàn thân Ngài đều được khô ráo ấm áp. Cuối tuần, trời lại quang đãng. Mãng Xà Vương tháo mình trở ra, hoá thành một thanh niên đứng chắp tay cung kính hầu Ngài.

Ðức Bổn Sư đọc bài kệ:

Hạnh phúc cho người đã tiếp cận chân lý, biết tri túc, sống ẩn dật.

Hạnh phúc cho người có tâm thiện lành, nhu nhuyến với mọi chúng sinh.

Hạnh phúc cho người vượt thoát mọi tham dục thế gian.

Hạnh phúc tối thượng cho người phá được ngã chấp.

7- Tuần thứ bảy:

Tuần lễ quyết định này, Ðức Bổn Sư chứng nghiệm Quả phúc siêu thoát, tức hạnh phúc của một Bậc Ðại Giác ngộ đã thành tựu quả vị Phật. Cảnh giới này thật vô cùng siêu tuyệt, hạnh phúc này thật vô lượng vô biên, không có một trí tuệ nào - kể cả trí tuệ của các hàng Bồ Tát mà có thể suy lường nổi.

Trong đêm mùng 8 tháng chạp, đêm thành đạo của Ðức Phật, kinh chép lại rằng: Vào canh ba, Ngài chứng Túc mạng minh, nhớ lại vô số kiếp trước của mình một cách rõ ràng như nhớ chuyện hôm qua. Canh tư, Ngài chứng Thiên nhãn minh, thấy muôn loài chúng sinh chết đây sanh kia, lên xuống trong luân hồi lục đạo, rành mạch như người đứng trên lầu cao nhìn xuống ngã tư đường. Ðến canh năm, khi sao Mai vừa mọc, Ngài chứng Lậu tận minh, hoàn toàn dứt sạch lậu hoặc vô minh, thành Phật hiệu Thích Ca Mâu Ni, Ðấng Tôn Sư của trời người.

Và đây là một trong những Phật ngôn đầu tiên, một bài ca chiến thắng được tấu lên vào đêm huyền diệu ấy: “Ta lang thang trong vòng luân hồi qua bao kiếp sống, tìm mãi mà chẳng gặp kẻ làm nhà. Khổ thay kiếp sống cứ tái diễn mãi! Này hởi kẻ làm nhà kia! Nay ta đã thấy ngươi rồi. Từ đây ngươi không thể làm nhà nữa. Ðòn tay ngươi đã bị gãy, sườn nhà bị rã tan. Tâm ta đã tịch diệt hết các hành, tất cả ái dục đều dứt sạch”. “Kẻ xây nhà” ngũ uẩn là ái dục, ái là sự yêu thích ở cõi Sắc và Vô sắc, có tính cách tế vi; Dục là sự ham muốn thô phù ở cõi dục. Chúng sinh do ái dục nên tạo nghiệp, quẩn quanh trong sanh tử. “Ðòn tay” là Vô minh, “sườn nhà” là những phiền não vi tế. Tất cả phiền não vô minh đều tận diệt, tất cả ái dục đều đoạn trừ. Ngài triệt ngộ các hành Vô thường và các pháp Vô ngã, chứng nhập Niết bàn thường trụ.

Như vậy, Ðức Phật đã đạt đỉnh cao của trí ruệ xuất thế sau 49 ngày công phu thiền định, nổ lực tự tu. Và bằng trí tuệ siêu xuất ấy, Ngài đã truyền dạy cho đời rất nhiều phương pháp tu tập, tùy trình độ và căn cơ của mỗi người, tựu trung chỉ nhằm một mục đích duy nhất là ngộ nhập thể tánh bất sanh sẵn đủ. Cuộc đời của Ðức Phật, từ lúc đản sanh đến khi thành đạo,là một tấm gương sáng tuyệt vời về trí tuệ, nhân cách và đạo đức. “Ngài đã tạo dựng một hệ thống triết thuyết vô cùng thâm sâu diệu mầu. Ngài là kết tinh của người thiện trí, bởi vì đứng trên phương diện tri thức, đạo đức và tính minh triết, chắc chắn Ngài là một trong những vĩ nhân cao thượng nhất lịch sử”. Những lời tán thán như trên thật vô cùng tận, nhưng ngôn từ nào diễn tả được lòng tôn kính ngưỡng vọng của chúng ta đối với Ðấng Từ Phụ cao cả?

Ngày Ðức Phật thành đạo là một ngày rất quan trọng đối với những người con Phật, vì đó là ngày đánh dấu sự xuất hiện của Phật pháp trên thế gian. Chúng ta kỷ niệm ngày này để chiêm nghiệm về con đường tu tập của Ðức Phật, để nhớ nghĩ đến ý chí siêu tuyệt và nhân cách vĩ đại của Ngài, để noi theo gương Ngài vững bước trên con đường tu nhiều chông gai thử thách. Mong rằng tất cả chúng ta, bằng nổ lực tự thân và lòng tin kiên định, sẽ có một ngày trọng đại như thế trong đời.(*)

 

Ý NGHĨA SỰ THÀNH ÐẠO CỦA ÐỨC BỔN SƯ

                                                                                   

Hơn hai mươi lăm thế kỷ đã trôi qua, kể từ thời điểm trọng đại đánh dấu chiến công lẫy lừng nhất trong lịch sử nhân loại. Môït con người bình thường, qua quá trình chiến đấu với bản thân, đã tự mình vượt thoát vòng kiềm toả của luân hồi sinh tử. Lời tuyên bố đầu tiên của Ngài vào thời điểm ấy vẫn còn vang vọng cho đến ngày nay và mãi mãi về sau, như một khúc ca khải hoàn chấm dứt cuộc trường chinh bất tận chống giặc vô minh phiền não, đưa một người từ thân phận chúng sinh lên địa vị một Ðấng siêu nhân, bậc Thầy của Trời người. Cũng từ thời điểm ấy, Sa môn Cồ Ðàm được thế gian tôn xưng là Ðức Phật - Bậc Giác ngộ tối thượng. Sự giác ngộ viên mãn, vĩnh thoát sinh tử được gọi là Sự thành đạo; và đêm cuối cùng dưới cội Tất–bát–la sau 49 ngày thiền định của Ngài, là Ðêm thành đạo.

Phải chăng suốt nhiều năm ròng rã trải qua biết bao khổ nhọc, Sa môn Cồ Ðàm đã hướng về một cái đạo để tìm để học, và sau cùng có một cái đạo để chứng để thành? Ðạo ấy từ đâu mà có, học từ đâu mà thành? Hiểu cặn kẽ điều này, chúng ta sẽ rõ ý nghĩa cao cả của sự tu hành, từ đó vững lòng tin vượt mọi gian nan thử thách, mạnh tiến trên đường tu.

Những vấn nạn không thể giải đáp thôi thúc Thái tử Sĩ-Ðạt-Ta vượt thành xuất gia, tựu trung gồm ba điều: “Con người từ đâu sinh ra? Sau khi chết đi về đâu? Làm thế nào thoát khỏi luân hồi sinh tử?”. Những năm dài đi nhiều nơi, học nhiều thầy, tu nhiều cách, cuối cùng Ngài hiểu rằng, phải tìm lời giải ngay tự thân. Bằng ý chí sắt đá và nỗ lực phi thường trong 49 ngày đêm, Ngài hoát nhiên đại ngộ vào đêm cuối cùng. Mọi thắc mắc ưu tư về những vấn đề trọng đại liên quan đến cuộc đời và con người, bỗng dưng được giải bày minh bạch, như ánh sáng mặt trời xua tan bóng đêm muôn kiếp.

Vào canh ba của đêm thành đạo, Sa-môn Cồ-Ðàm chứng Túc mạng minh. Ngài nhớ vô lượng kiếp về trước, mình đã sinh ở đâu, chết như thế nào, rõ ràng như nhớ chuyện hôm qua. Câu hỏi “Con người từ đâu sinh ra?” đã có câu trả lời rằng, sự luân hồi là bất tận, đã diễn ra từ vô thủy và tiếp tục đến vô chung. Vào canh tư, chứng Thiên nhãn minh, Ngài thấy muôn loài chúng sinh chết đây sinh kia liên tục, quẩn quanh trong ba cõi sáu đường, tùy nghiệp nhân đã tạo. Như thế Ngài đã tự mình giải đáp câu hỏi thứ hai: “Sau khi chết đi về đâu?”. Và đến canh năm khi sao Mai vừa mọc, Ngài chứng Lậu tận minh, giải quyết được vấn nạn lớn nhất: “Làm sao thoát khỏi luân hồi sinh tử?”

Trong suốt 45 năm hành đạo, Ðức Phật đã chỉ dạy cho môn đệ những điều Ngài nhận biết bằng trí tuệ siêu xuất của mình. Lời Ngài tuyên thuyết về nhân sinh quan và vũ trụ quan cách đây hơn 25 thế kỷ, đến giờ vẫn còn tuyệt đối đúng đắn, dù khoa học đã tiến những bước rất dài. Và khoa học càng tiến bộ, lại càng chứng minh những lời phật dạy là chân lý muôn đời. Bởi vì, chân lý ấy không phải được ức đoán nhờ trí hữu sư, ý thức hạn hẹp vay mượn của phàm phu mà phát xuất từ trí tuệ vô sư của một bậc Ðại Thánh, người đã nhận ra một cách thấu thể toàn bộ bản chất của mọi sự vật hiện tượng.

Bài thuyết pháp đầu tiên của Ðức Phật tại Lộc Uyển là Tứ Ðế, trong đó Khổ đế là nỗi khổ dai dẳng của kiếp người. Khổ do thân là sinh già bệnh chết; khổ do tâm là thương yêu phải xa lìa, oán thù mà gặp gỡ, mong cầu không như ý; và khổ do năm ấm lẫy lừng. Biết rõ cuộc đời là khổ, biết nguyên nhân của khổ (Tập đế) là Tham sân si, con người phải tìm cách thoát khổ. Quả an lạc giải thoát (Diệt đế) chỉ được hưởng khi ta theo đúng những phương pháp đoạn tận khổ đau (Ðạo đế). Khổ Tập Diệt Ðạo là bốn sự thật có giá trị vĩnh cữu nên là chân lý muôn đời.

Một khía cạnh khác được Ðức Phật thấu triệt và khởi xướng là Lý Duyên Sinh. Không một pháp nào có hình tướng mà không do những yếu tố khác tạo thành. Một hạt bụi nhỏ cũng là tập hợp của nhiều phân tử; mỗi phân tử lại được cấu tạo bởi nhiều nguyên tử. Bản thân nguyên tử cũng gồm có nhân cùng các điện tử, và khi chia chẻ đến cùng cực thì chỉ là hư không. Con người,sinh linh tối thượng trong vũ trụ, chỉ do tập hợp của các tế bào mà bản chất cũng gồm nhiều yếu tố vi tế. Cuộc sống đáo cùng chỉ là sự vay trả. Mượn tứ đại bên ngoài để nuôi dưỡng tứ đại bên trong; vay trả thông suốt thì khoẻ mạnh, vay trả bị trở ngại thì ốm đau. Ngay cả những tư tưởng tình cảm mà lâu nay ta nhận lầm là tâm mình, cũng chỉ như dợn nước ngoài nắng, như hoa đốm trong hư không, đủ duyên thì hiện, hết duyên lại biến, sinh sinh diệt diệt không dừng.

Như vậy, cả thân tâm cảnh đều do duyên hợp không thật có. Vì không thật có nên không có ta thật (ngã), không có gì thật là linh hồn của ta (tự ngã) và những sở hữu của ta (ngã sở). Vô ngã là chân lý tuyệt đối mà Ðức Phật là vị Giáo chủ duy nhất tuyên xướng, đã chỉ ra sai lầm 62 kiến chấp của ngoại đạo thời bấy giờ.

Tuy nhiên, chúng ta có thể tự hỏi: Nếu tất cả đều không thật, thì rốt cuộc người tu sẽ đạt được những gì? Như Ðức Phật, bao năm khổ công tìm đạo, rồi thành đạo giáo hoá trong 45 năm, cuối cùng thân xác cũng trở về cát bụi; còn chăng, chỉ là những viên xá lợi làm chứng tích cho đời sau chiêm bái. Hóa ra Ngài cũng chẳng khác gì muôn loài chúng sinh, và sự tu hành cũng là uổng công vô ích?

Thật ra, thân xác hữu hình chỉ là thân vay mượn, vì vay mượn nên tạm có mặt trong một thời gian; còn Pháp Thân chân thật thì không hình tướng, không đến đi, không bao giờ sinh diệt. Ðó là tánh giác, là bản tâm, luôn sẵn đủ nơi mọi chúng sinh; nhưng vì chúng sinh mê lầm, mãi quay cuồng theo thức tâm phân biệt, từ đó tạo nghiệp thiện ác, quẩn quanh trong luân hồi ba cõi. Như vầng trăng sáng bị mây đen che phủ, chúng sinh bị vọng tưởng chi phối nên tánh giác không thể hiển bày. Nhưng dù khuất sau đám mây, mặt trăng vẫn luôn hiện hữu; chúng sinh vô minh nhận lầm ý thức lăng xăng là mình, quên đi tánh giác, nhưng tánh giác vẫn chưa bao giờ vắng thiếu. Phật và chúng sinh bình đẳng ở tánh giác, chỉ khác nhau ở Ngộ (trở về sống trọn vẹn với pháp thân) và mê (quên mất pháp thân, đuổi theo ngoại cảnh) mà xa cách muôn trùng!

Tóm lại, quá trình Sa–môn Cồ–Ðàm đi tìm đạo tức tìm lời giải đáp cho những vấn nạn lớn của cuộc đời và con người. Lời giải đáp ấy chính là lẽ thật, là chân lý muôn đời không thay đổi: Do mê tự tánh nên chiụ khổ đau phiền não, nếu sống với tự tánh chân thường là giải thoát. Ði tìm chân lý tuyệt đối này là “tìm đạo”, thấy được chân lý là “ngộ đạo“ và hằng sống với chân lý ấy là “thành đạo“. Chân lý không phải tìm cầu ở nơi đâu, ở người nào, mà là xoay lại soi sáng chính mình, tìm con người thật bất sinh ở ngay thân năm uẩn sinh diệt, tìm tự tánh chân thường hằng hữu ở ngay những biến động vô thường.

Khi nào bặt dứt những vọng niệm phân biệt hai bên, dù vẫn đối duyên xúc cảnh, vẫn biết rõ ràng các pháp, ta sẽ thấy sự thật luôn dàn trải trước mắt ta trong từng giây phút. Không lầm chạy theo các pháp sinh diệt, không lầm chấp những vọngï tưởng đảo điên là tâm mình, hiểu rõ những gì có hình tướng đều là duyên hợp hư giả, chúng ta sẽ an nhiên trước mọi đổi thay của hoàn cảnh và của lòng người. Chúng ta không nhọc công sức vun quén cho bản thân và gia đình mà biết mở lòng ra, xem tất cả mọi người đều bình đẳng với mình. Ðược như thế ta không thể nào nhẫn tâm hại người hại vật để mưu cầu lợi ích riêng tư. Ta sẽ có cơ hội thưởng thức vẻ đẹp kỳ diệu của thiên nhiên, ta sẽ biết mỗi loài đều có tiếng nói riêng nhưng cùng chung mong muốn: Ðược bình an phúc lạc. Và đến một thời điểm nào đó khi đủ thời tiết nhân duyên, ta đột nhiên nhận rõ bộ mặt xưa nay của chính mình.

Cầu chúc tất cả chúng ta đều sẽ có một thời điểm trọng đại như thế trong đời!

 

NGƯỜI CHIẾN THẮNG

 

Một. Hai. Ba... Mười! Trọng tài đã dứt tiếng đếm mà người võ sĩ đang nằm trên sàn đấu vẫn chưa gượng dậy được. Không khí sau phút lặng yên nín thở, bỗng vỡ òa những tiếng vỗ tay, la hét, hoan nghênh người võ sĩ vừa hạ gục đối thủ bằng cú nốc-ao (knock-out) sấm sét. Người chiến thắng vui cười hỉ hả với đám đông cuồng nhiệt vây quanh, kẻ bại trận thất thểu lê từng bước rời khỏi đấu trường!

. . . Tiếng còi của trọng tài chính vang lên chấm dứt hiệp hai. Cả khán đài như rung chuyển vì sự phấn khích của hơn bốn vạn khán giả. Lá cờ của nước chiến thắng phần phật tung bay. Cả đội bóng và huấn luyện viên đang công kênh chân sút chủ lực, người vừa mang về bàn thắng vàng làm nên chiến thắng chung cuộc. Ống kính camera đưa nhanh một vòng và dừng lại ở góc sân: hình ảnh cận cảnh của khuôn mặt thủ môn đội bạn, người bắt hụt trái bóng quyết định. Những giọt nước mắt hiếm hoi lăn trên đôi má dạn dày sương gió, làm người xem cảm thấy thắt lòng!

. . .  Những thước phim đang kể lại một trận thắng lẫy lừng của Ðại Hãn Mông Cổ. Trên chiến trường, thây người ngựa ngổn ngang. Có những xác người chồng lên nhau, tựa đầu vào nhau trong giấc ngủ ngàn năm thân ái, dường như hận thù không còn tồn tại ở thế giới bên kia. Một ngọn cờ gãy cán cắm chơ vơ cạnh một bánh xe gỗ dính máu nằm lăn lóc trên đất, lá cờ phất phơ trước làn gió lạnh lùng. Ðại Hãn cưỡi con ngựa chiến lông đen mượt, đầu ngẫng cao, mặt rạng rỡ. Người chiến thắng bằng vó ngựa trường chinh, đang nuôi mộng bá chủ thiên hạ, xây dựng “sự nghiệp thiên thu” trên những xác người.

***

Trong thế giới nhị nguyên chúng ta đang sống, có thành tất nhiên có bại, có người chiến thắng phải có kẻ thất trận. Bên cạnh bài ca khải hoàn của người nầy, cũng có những giọt lệ chiến bại của người kia. Niềm vui chiến thắng nào cũng được xây dựng trên sự đau khổ, thậm chí trên tính mạng tài sản của kẻ khác. “Nhất tướng công thành vạn cốt khô”. Một viên tướng sau trận công thành, hàng vạn bộ xương khô sẽ là chứng nhân lịch sử.

Nhưng niềm vui chiến thắng có bền vững mãi không? Người thắng trận có thật sự là người hạnh phúc?

Trong những cuộc so tài trên sàn đấu, trong vận động trường và cả trong chiến trường, sự chiến thắng cũng chỉ có tính nhất thời. Danh tiếng của người thắng trận chỉ tồn tại trong thời gian họ còn duy trì được ngôi vị. Sau thời gian ấy, họ sẽ bị chìm vào quên lãng, vì thay vào đó đã có những tên tuổi khác sáng chói hơn. Trên trường chính trị càng khắc nghiệt hơn, chạy đua giành chiếc ghế cao nhất nước là một cuộc thi vô cùng gian khổ. Bao nhiêu công sức, tiền bạc, mưu trí đổ ra lúc vận động tranh cử; đến khi đắc cử rồi, đâu phải được an hưởng vinh hoa phú quí, trái lại còn phải làm việc cật lực, chịu bao điều tiếng khen chê của công luận. Ðể rồi sau nhiệm kỳ ngắn ngủi 4-5 năm, nhìn lại chỉ còn le lói một dấu vết của hào quang đang tàn lụi!

Như vậy, những chiến công theo ý nghĩa thế tục đều được xây dựng trên sự khổ đau - khổ đau cho người thua cuộc và cả cho người chiến thắng. Bởi vì, mọi sự đấu tranh trên đời đều phát xuất từ lòng tham: tham danh, tham lợi, tham sắc... Tham cho cá nhân mình, cho người mình thương và cho tập thể mình đang sinh sống. Vì tham nên không từ một thủ đoạn nào để dành phần thắng về mình, vì tham nên khi đạt được điều mong muốn, lại ước muốn nhiều hơn. Ước vọng dần dần được nuôi lớn nhờ những lần thành công, trở thành cao vọng, và cuối cùng là cuồng vọng điên rồ. Thành-Cát-Tư-Hãn ở phương Ðông, Napoléon và Hitler ở phương Tây là những nhân vật một thời lừng lẫy, vì cuồng vọng bá chủ thiên hạ nên đành chịu chết thảm, lại còn lưu xú vạn niên. Chưa nói đến những người chẳng hề bại trận trước đối phương, lại không thể giữ mình trước ánh mắt mỹ nhân, để đến nỗi thân bại danh liệt. “Nhất tiếu khuynh nhân thành, Tái tiếu khuynh nhân quốc”. Nụ cười của người đẹp có thể làm nghiêng thành đổ nước. Những thiên tình sử Trụ Vương - Ðắc Kỷ, Lữ Bố - Ðiêu thuyền, César - Cléopâtre như những bài học về kẻ chiến thắng người khác mà không tự thắng lòng tham của chính mình.

Cách đây hai mươi lăm thế kỷ, có một vị Thái tử đang độ tuổi thanh xuân, sống trong hạnh phúc cao sang, trong sự quý kính của triều thần, đột nhiên vượt thành bỏ trốn. Dân chúng bàng hoàng, phụ vương tuyệt vọng, người vợ trẻ biếng ăn bỏ ngủ, ôm con thơ làm kiếp vọng phu. Có lẽ nào như thế? Thái tử là người tài đức vẹn toàn, phong thái siêu tuyệt, văn võ hơn người. Ngay lần thi đấu tại nước láng giềng, Ngài đã vượt qua bao nhiêu anh tài, trở thành người xuất sắc nhất, được quốc vương ban gả cô công chúa cưng quý của mình. Ngài đã thành công trên mọi lĩnh vực, đã hưởng thụ mọi lạc thú trên đời; vậy Ngài còn mong cầu điều gì mà hy sinh tất cả, một mình sống đời tu sĩ nơi rừng núi thâm u?

Chỉ có Thái tử tự biết, mình chưa đúng nghĩa là Người chiến thắng. Ngài không hiểu từ đâu mình sinh ra, lúc chết đi về đâu, tại sao phải chịu cảnh sinh già bệnh chết, và có cách nào thoát khỏi vòng sinh tử? Ðó là những câu hỏi lớn mà chỉ có Ngài mới biết đặt ra và tự tìm lời giải đáp, vì trong sách vở, trong kiến thức Ngài thu thập được từ những vị thầy lỗi lạc, không đâu có thể trả lời.

Trong những năm ròng rã tìm thầy học đạo, Thái tử - giờ thành Sa-môn, đã nhiều phen chiến đấu với những chướng ngại bên ngoài và bên trong thân tâm. Có lẽ nhiều phen Ngài nhìn lại đời mình, tự hỏi việc làm của mình có đúng đắn không? Có lẽ một lúc nào đó, nỗi đau khổ chưa tìm được hướng đi, đồng thời ùa đến, nhận chìm Ngài trong cùng cực của tuyệt vọng. Sự đấu tranh nội tâm thật là mãnh liệt, nhưng rồi Ngài vẫn vượt qua được, cố gắng vươn lên, tiếp tục thực hiện chí nguyện lớn nhất của đời mình. Ngài đã chiến thắng tất cả, để cuối cùng hát lên khúc ca khải hoàn: “Ta đã được giải thoát, sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc làm đã xong, đã đặt gánh nặng xuống, không còn trở lui trạng thái nầy nữa!.” Ðó là cuộc đời tu hành của Thái tử Sĩ-Ðạt-Ta ngày xưa và Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni của ngàn đời sau.

***

Chúng ta có thể đúc kết những chiến công của Ðức Bổn Sư như sau, để làm bài học cho đời tu của chính mình:

Một là, sự dằn vặt trong tâm Ngài khi còn ở cung son. Một bên là cuộc sống tột đỉnh quyền uy với hạnh phúc gia đình hoàn hảo, một bên là lý tưởng cầu đạo vô thượng. Trong nhiều ngày đêm, nội tâm Ngài là một trường tranh đấu, nhất là khi nghĩ đến phụ vương già yếu và người vợ trẻ hiền thục, sẽ cô đơn đau khổ biết chừng nào nếu Ngài ra đi? Chữ hiếu chữ tình đều không trọn, có thể hi sinh tình riêng mà hoàn thành đạo nghiệp được chăng? Câu trả lời xin hẹn ở tương lai, nay nhất quyết quay lưng với ngũ dục. Như thế, Ngài đã chiến thắng trận đầu, một trận tuyến vô hình với những viên đạn bọc đường, sức cám dỗ mãnh liệt mà không mấy ai thoát nổi.

Hai là, sự khó khổ về vật chất và nỗi cô đơn hiu quạnh trong rừng sâu. Từ mức độ cao tột về vật chất và lừng lẫy về danh vọng, không qua một giai đoạn chuyển tiếp nào, đột nhiên Ngài tự nguyện rơi xuống mức tận cùng của cuộc sống: làm một Sa-môn không tên tuổi, sống qua ngày bằng những bát cơm tín thí. Ðường đi thì gian nan diệu vợi, hướng đi chưa phân định rõ ràng, Ngài như người trong bóng tối mò mẫn từng bước độc hành độc bộ. Có lúc nào Ngài thấy lòng chùng xuống, nhớ những ngày êm ấm thuở xưa mà hối tiếc về sự phiêu lưu táo bạo của mình? Chúng ta chỉ biết, Ngài vẫn tiếp tục con đường đã chọn, đi không mệt mỏi dù không rõ bao giờ mới đến nơi. Một lần nữa, Ngài lại chiến thắng.

Ba là, khi đến cầu đạo với Tiên nhân Uất-Ðầu Lam-Phất (Uddaka Ramaputta), chỉ một thời gian ngắn Ngài đã học xong tất cả tinh hoa của thầy. Giá như người khác, đã có thể tại đây an thân lập mệnh, cùng thầy “chia nửa tòa ngồi” để được người đời tôn kính. Nhưng riêng Ngài, tự thấy quả vị Phi tưởng Phi phi tưởng xứ chưa phải là cứu cánh giải thoát, vì còn trong vòng kềm tỏa của luân hồi. Ngã phàm đã dứt, ngã Thánh cũng phải xa lìa. Ngài mạnh dạn dứt áo ra đi sau khi từ biệt vị thầy khả kính. Sự xả ly những quả vị đạt được không phải là điều dễ dàng trong tâm thức hành giả, cho nên lần chiến thắng nầy thật vô cùng vẻ vang.

Bốn là, lúc nhận thấy pháp tu khổ hạnh không đưa đến giác ngộ giải thoát, Ngài quyết định theo con đường trung đạo. Sự khinh chê từ bỏ của những người từng tôn kính Ngài hết mực, đối với người đời hẳn là vết thương lòng đau đớn không gì sánh nổi. Chỉ riêng Ngài tự biết sự lựa chọn của mình là đúng đắn, nhưng không nên biện bạch mà chỉ nên trả lời bằng kết quả tu hành. Ngã chấp đã buông nên không động tâm đối với tình cảm của người khác, pháp chấp cũng buông nên không dính mắc với một pháp nào. Ngài chiến thắng trên cả hai mặt trận ngã & pháp, hiểu rằng chính mình là vị Thầy thực sự của mình. Từ đó mới có lời thề sấm sét dưới cội Tất-bát-la: “Dù thịt nát xương tan, nếu chưa tìm được đạo vô thượng, ta quyết không rời khỏi chỗ này!”

Trận chiến thứ năm, trận cuối cùng, cũng là trận chiến quyết định của Người chiến sĩ Vĩ đại. Bốn mươi chín ngày đêm thiền định, một mình đối diện với chính mình, tâm Ngài chuyển biến ra sao, đấu tranh với những cám dỗ Ma Vương thế nào, chỉ có Ngài hiểu thấu. Chúng ta chỉ biết rằng, khi sao Mai vừa mọc vào đêm 49, Ngài hoàn thành đạo nghiệp. Ðối thủ lần nầy của Ngài - và của tất cả chúng sanh - là Quỷ vô thường, là vòng xóay luân hồi, là ma trận sinh tử. Chỉ có Ngài là người duy nhất chiến thắng, nên đây là chiến công oanh liệt nhất. Và cũng vì thế, Ngài trở thành Bậc Ðại Giác Ngộ, Bậc Thầy của ba cõi Trời người. Cũng vì thế, đêm cuối cùng nầy được gọi là Ðêm Thành đạo, đêm khai sinh của Phật Bảo, tiền đề cho Tam Bảo sau nầy.

Câu chuyện đời của Ðức Bổn Sư như một trường thiên tiểu thuyết, mà người văn sĩ, dù tài hoa đến bậc nào cũng không thể tưởng tượng được hết. Vậy mà, đó lại là sự thật, vì Ðức Phật Thích-Ca-Mâu-Ni là một nhân vật lịch sử. Ngài cũng là con người bằng xương bằng thịt như mọi người, nhưng Ngài phi thường ở ý chí nghị lực, ở lòng thương bình đẳng vô bờ đối với chúng sanh. Bằng nghị lực phi thường và tâm từ bi cao tột ấy, Ngài đã chiến thắng mọi cám dỗ của ngũ dục bên ngoài và phiền não tham sân si bên trong tự thân, cuối cùng vĩnh thoát sinh tử. Chiến công nầy không làm ai đau khổ, không gây tổn hại tính mạng tài sản của ai; mà trái lại, mang đến an lạc hạnh phúc cho con người, mang tình thương vô ngã vị tha chan rải khắp cùng pháp giới. Chiến công nầy không chỉ có giá trị trong một thời gian nhất định, mà vĩnh viễn làm lợi ích cho chính mình và cho chúng sanh vạn loại. Trên tất cả, trận thắng cuối cùng của Ðức Bổn Sư chỉ rõ cho con người thấy rằng, mỗi chúng sanh đều có mầm mống giác ngộ, đều có khả năng giải thoát. Chỉ có Ðức Phật mới tuyên bố tất cả chúng sanh đều có đức tướng Như Lai, chỉ có đạo Phật mới đặt mọi loài ngang hàng với vị Giáo Chủ. Bởi vì, bằng trí tuệ vô sư xuất thế, Ngài thấy chúng sanh bình đẳng nhau ở Tánh giác. Ðây là cái thấy như thị, cái thấy không còn kẹt vào tứ tướng ngã nhân chúng sanh thọ giả, cái thấy thấu suốt tột cùng bản chất của muôn sự muôn vật.

Những người con Phật chúng ta, theo gương sáng của Ðấng Từ phụ, không cầu hơn thua phải quấy, không màng sự đấu tranh để gây đau khổ cho mình và cho người. Chúng ta chỉ nguyện, luôn xoay lại soi sáng chính mình, luôn chiến đấu với lũ giặc phiền não tự tâm, biết chế ngự ngũ dục thế gian, thắp sáng trí tuệ nhận rõ thân-tâm-cảnh đều do duyên hợp giả có. Biết tất cả các pháp đều vô thường hư dối, nhưng trong đó vẫn có một điểm linh quang thường hằng bất biến, luôn tĩnh lặng mà chiếu soi, luôn tịch tịnh mà sáng ngời. Ðó là Phật tri kiến, là Bản lai diện mục, là Ðức A-Di-Ðà Vô lượng quang Vô lượng thọ Vô lượng công đức. Nhận ra Tánh giác sẵn đủ và hằng sống với Tánh giác, hành giả chiến thắng được kẻ thù Tam độc ngay chính bản thân, chiến thắng cả Quỷ Vô thường, chặt đứt mắc xích của vòng luân hồi sinh tử. Ðó mới thật là chiến thắng tuyệt đối, vĩnh cửu, mới thật sự đem lại lợi ích cho mình và cho tất cả chúng sanh. Người chiến thắng ấy mới thật sự là Bậc đáng được Trời người cúng dường tán thán, mới không cô phụ bản hoài của chư Phật và tánh linh của chính mình!

  

THẬP HIỆU NHƯ LAI

 

Một lần nọ, Tôn giả Xá Lợi Phất cung kính đảnh lễ Ðức Phật Thích Ca và bạch rằng: “Bạch Ðức Thế Tôn! Chư Phật khắp mười phương, ở cả ba đời quá khứ - hiện tại - vị lai, không ai có trí tuệ và sự chứng đắc siêu việt bằng Thế Tôn”. Ðức Phật Thích Ca trả lời: “Này Xá Lợi Phất, đừng nói quá lời như thế. Tất cả chư Phật đều bình đẳng ở trí tuệ, từ bi và hùng lực”.

Theo tinh thần này, vị Phật nào cũng có đầy đủ những đức tính và đặc điểm như Ðức Bổn Sư của chúng ta. Sở dĩ chúng ta thường thờ phụng xưng tán Ðức Phật Thích Ca hơn các vị Phật khác, vì chúng ta đang nằm trong vòng pháp hóa của Ngài, vì cõi Ta-bà đang có túc duyên được Ngài làm Giáo chủ.

Những đức tính và đặc điểm hình thành nhân cách của một vị Phật đều được ghi chép đầy đủ trong các văn hệ Phật giáo Nam tông và Bắc tông. Trong đó có mười danh hiệu, thường gọi là Thập hiệu Như Lai, là những danh hiệu cao quý để tôn xưng những bậc đã thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Chỉ riêng các vị Phật mới đủ Thập hiệu, vì mỗi danh xưng tượng trưng một đức tính cao cả, một đặc điểm siêu tuyệt, mà ngay những vị A-la-hán hay các hàng Bồ-tát cũng không thể sánh bằng. 

1- Như Lai:

Trong các kinh luận, danh hiệu Như Lai được hiểu theo bốn nghĩa chính:

1-  “Nói sao làm vậy, làm sao nói vậy”: Nghĩa này thường được đề cập trong Luận tạng Nam tông. Ðức Phật luôn luôn Hạnh-giải tương ương, lời nói luôn đi đôi với việc làm. Do vậy, lời dạy của Ngài có sức thuyết phục rất cao; và nhiều khi không cần dùng ngôn từ, hành động cử chỉ của Ngài cũng là những bài học quý giá cho các hàng môn đệ.

2-  “Từ Như mà đến, rồi lại trở về Như”: “Như” là thế giới lý tưởng bất động, không khổ đau phiền não. Vì lòng từ bi, chư Phật thị hiện đến cõi Ta-bà này, giáo hóa chúng sanh (Lai). Khi hết duyên, các Ngài lại trở về thế giới lý tưởng ấy. Chúng sanh thì khác, do nghiệp mà đến rồi lại theo nghiệp mà luân hồi trong sáu nẻo.

3- “Như Lai là nghĩa Như của các pháp” (Như Lai giả, thị chư pháp như nghĩa): Các pháp vốn không có tâm phân biệt, vì tự thân của chúng là Chân như. Chúng ta khi tiếp xúc với vật, liền khởi niệm chia chẻ phân ranh đẹp – xấu, rồi khen – chê, ưa – ghét; ưa thì muốn chiếm hữu, ghét lại muốn xa lìa. Từ đó, tạo nghiệp ở ý, rồi phát ra miệng nói thân làm. Thật ra, tự tánh của các pháp không thể dùng văn tự để diễn bày, mà chỉ bằng trí tuệ thực chứng của Bậc Giác ngộ mới thấu triệt. Và chính vì thẩm thấu vào thực tại tự thân mầu nhiệm của vạn pháp, các Ngài thấy rõ tất cả pháp đều là Phật pháp, đều là Chân như.

4- “Không từ đâu đến, chẳng đi về đâu, nên gọi là Như Lai” (Vô sở tùng lai, diệc vô sở khứ, cố danh Như Lai): Ý nghĩa này rất sâu xa khó hiểu nếu chúng ta chưa có khái niệm về Lý Bất nhị của nhà Phật. Phiền não và giải thoát, Ta-bà và Tịnh-độ thật sự chỉ là hai mặt tối - sáng của cùng một thực thể. Vì tự thân của các pháp là Chân như, vì tất cả pháp đều là pháp thân thường trụ - không hình tướng mà trùm khắp và hằng tri hằng giác, nên không đến không đi, không sanh không diệt. Nhận ra pháp thân thường trụ và sống trọn vẹn bằng thân- tướng-không-tướng này, đó là sự giác ngộ tột cùng và viên mãn.

Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Nhập Pháp Giới có một đoạn nói về Như Lai: “Ðức Như Lai chẳng phải đi, vì đã diệt hẳn thời gian không gian. Ðức Như Lai chẳng phải đến, vì thể tánh vô sanh. Ðức Như Lai chẳng phải sanh, vì pháp thân bình đẳng. Ðức Như Lai chẳng phải diệt, vì không có tướng sanh. Ðức Như Lai chẳng phải thiệt, vì an trụ pháp như huyễn. Ðức Như Lai chẳng phải vọng, vì lợi ích chúng sanh. Ðức Như Lai chẳng phải dời đổi, vì vượt khỏi sanh tử. Ðức Như Lai chẳng phải hư hoại, vì tánh thường chẳng biến đổi. Ðức Như Lai một tướng, vì đều rời ngôn ngữ. Ðức Như Lai vô tướng, vì tánh tướng vốn không”(*)

2- Ứng cúng:

“Ứng cúng” có nghĩa “Xứng đáng được cúng dường”. Ðây là danh hiệu tôn xưng những vị đã sạch lậu hoặc phiền não, là phước điền của thế gian. Các bậc Bồ-tát, A-la-hán cũng được tôn là Ứng Cúng, nhưng đối với chư Phật, ý nghĩa này cao cả hơn. Một bài kệ xưng tán Ðức Thích Ca có đoạn:

 

Công viên quả mãn

Viên chứng Bồ đề

Trục loại tùy hình

Tế độ quần sanh.

Công hạnh của Ngài đã thành tựu viên mãn, sự giác ngộ đã toàn diện toàn triệt. Khi muốn giáo hóa chúng sanh, Ngài thị hiện bằng hình thức tương ứng để dễ bề tiếp cận và nhiếp phục. Nhưng dù ở hình thái chúng sanh nào, Ngài cũng nổi bật nhất, tài giỏi nhất, hoàn mỹ về mọi phương diện, nên luôn luôn được tôn kính quý trọng, xứng đáng được cúng dường.

3- Chánh biến tri:

“Chánh” là chân chánh; “Biến” là cùng khắp; “Tri” là sự thấy biết. Chánh biến tri là sự thấy biết như thật về tất cả các pháp trong cùng khắp pháp giới. Ðây là khả năng của một bậc Ðại Giác ngộ, bằng tuệ giác Bát-nhã thấu triệt thật tướng của vũ trụ vạn loại. Sự thấy biết này không qua suy luận phân tích của ý thức nên không hề sai lạc và không bị ảnh hưởng bởi không gian và thời gian.

Sau bốn mươi chín ngày đêm thiền định dưới cội cây Tất-bát-la, Ðức Phật Thích Ca thấy rõ mọi pháp đều là tập hợp của các nhân và duyên. Không có pháp nào tự nó hình thành, mà phải nhờ những pháp khác không phải nó, với những điều kiện nhất định nào đó, mới có thể tạo nên nó. Ví như cái bàn, phải nhờ sự tập hợp của gỗ, đinh, công người thợ... sắp xếp phân bố theo một cách thức nào đó, mới được tạo dựng theo hình thức hiện có. Suy xét đến tận cùng, nó không có thực thể, chỉ là tạm có do các duyên hợp lại. Vì thế, tự tánh của nó là không. Tánh Không là tánh bình đẳng của tất cả các pháp, cũng là thật tướng của toàn thể vũ trụ nhân sinh, mà chỉ những bậc thực chứng qua công phu thiền quán mới thấu triệt được.

4-  Minh hạnh túc:

“Minh” là trí tuệ, là Trí đức. “Hạnh” là công hạnh độ sanh, là Hạnh đức. Một vị Phật luôn đạt đến viên mãn cả hai lĩnh vực Trí và Hạnh một cách hoàn hảo, tạo nên nhân cách kỳ vĩ của các Ngài.

Tinh thần này được tượng trưng bằng ba hình ảnh chúng ta thường thấy thờ ở các chùa: Chính giữa tôn trí tượng Ðức Phật Thích Ca, bên phải là Bồ-tát Văn Thù, bên trái là Bồ-tát Phổ Hiền. Bồ-tát Văn Thù tượng trưng trí tuệ vô sư, còn gọi là Bát-nhã trí hay Căn-bản trí, tức trí tuệ do công phu tu hành mà có. Bồ-tát Phổ Hiền tượng trưng hạnh nguyện cứu độ tất cả chúng sanh hữu duyên. Ðức Phật Thích Ca, từ thế giới lý tưởng đến cõi Ta-bà giáo hóa chúng sanh, cần được sự phò tá của hai vị Ðại Bồ-tát. Bởi vì chúng sanh cang cường khó điều phục, tham đắm ngũ dục mà quên tánh giác sẵn có của chính mình, nếu không đầy đủ trí tuệ và lòng từ bi thì Ðức Phật khó bề tiếp độ muôn loài.

5-  Thiện thệ:

“Thiện thệ” có ba ý nghĩa:

1) “Thiện” là khéo, “Thệ” là đi qua. Ðức Phật là bậc Ðại Giác ngộ đã khéo qua bờ bên kia, tức bờ giải thoát. Ngài không còn bị chi phối bởi quy luật sinh tử, chỉ vì nguyện lực cứu độ quần sanh nên thị hiện đến cõi Ta-bà. Kinh Hoa Nghiêm nói, thế giới Ta-bà được tạo dựng do thần-lực-hải của chư Phật, nguyện-lực-hải của chư Bồ-tát và nghiệp-lực-hải của chúng sanh.

2) Thiện thệ là khéo đi qua và khéo an trú vào các Tam-ma-đề sâu xa, phát sinh trí tuệ nhiệm mầu. Tam-ma-đề là Ðịnh. Từ Ðịnh phát khởi trí huệ. Lộ trình Giới – Ðịnh – Huệ là lộ trình giác ngộ giải thoát mà người tu chúng ta phải cần hiểu rõ và trải qua.

3) Thiện thệ còn gọi là Thiện khứ, Thiện giải, Hảo thuyết. Thiện khứ là khéo đi luôn qua bờ giác, không trở lại bờ sinh tử. Thiện giải là khéo hiểu biết về tất cả pháp thế gian. Hảo thuyết là thuyết pháp một cách vi diệu, có thể thuyết phục được mọi tầng lớp dân chúng. Trong Kinh mô tả giọng nói của Ðức Phật Thích Ca hùng hồn, vang xa có sức chấn động như tiếng hải triều âm, hội chúng đông đảo hàng ngàn người vẫn nghe rõ ràng lời dạy của Ngài. Ðặc biệt là bài thuyết pháp nào của Ðức Phật cũng đều có sức lôi cuốn, làm chấn động tâm thức người nghe, từ lúc bắt đầu, rồi đoạn giữa cho đến đoạn cuối cùng (gọi là Sơ thiện, Trung thiện và Hậu thiện). Thính chúng nghe Ngài thuyết giảng, nhiều người đã giác ngộ và đắc Thánh quả ngay tại pháp hội.

6- Thế gian giải:

“Giải” là hiểu biết. “Thế gian giải” là hiểu biết rành rẽ tất cả các công việc, sinh hoạt của thế gian. Ðức Phật tuy sống trong môi trường thanh tịnh của người xuất gia, nhưng Ngài thông hiểu cặn kẽ và dạy bảo rất kỹ càng cho giới cư sĩ tại gia thuộc mọi giai cấp trong xã hội, từ cách cư xử giữa cha mẹ, vợ chồng, cha con, bè bạn, cho đến phương pháp mưu sinh; từ cách trị dân cho đến đường lối ngoại giao với các nước láng giềng... Có thể nói, Ðức Phật là người thông thái uyên bác và đa tài đa năng bậc nhất trên cõi đời này. Vì sao nói như thế? Các học giả, các nhà khoa học hàng đầu thế giới được người đời kính trọng vì kiến thức bác lãm. Nhưng thật ra, các vị chỉ có sự hiểu biết tường tận trong phạm vi chuyên môn của mình. Khoa học ngày càng tiến bộ, mức độ chuyên khoa hóa ngày càng thâm sâu, thì mỗi nhà nghiên cứu lại càng phải đầu tư trí tuệ vào một lĩnh vực duy nhất nào đó. Trong các lĩnh vực khác, họ chỉ hiểu biết rất ít, hoặc hoàn toàn không hiểu biết gì cả. Chỉ có Ðức Phật, với trí tuệ siêu tuyệt, Ngài rành rẽ mọi phương diện từ vũ trụ đến nhân sinh, từ con người đến xã hội, từ sinh hoạt thể chất đến nhu cầu tinh thần. Ngài lại biết cách hòa đồng vào các tầng lớp dân chúng, nói tiếng nói của địa phương, tôn trọng phong tục tập quán của người bản xứ, dần dần khiến mọi người tin phục, tu theo đường lối của Ngài. Nhà Phật chủ trương “bất biến – tùy duyên”. Bất biến là yếu chỉ công phu phải luôn phù hợp với chân lý tuyệt đối. Tùy duyên là uyển chuyển theo đối tượng, tùy trình độ căn cơ của từng người mà có phương tiện giáo hóa thích hợp. Tinh thần tùy duyên càng được thực hiện trọn vẹn khi người thầy càng thông hiểu thế sự, càng có kiến thức quảng bác về thế giới và xã hội chung quanh.

7- Vô thượng sĩ:

Vô thượng sĩ là người trí thức cao tột, là bậc Thầy không ai sánh được. Danh hiệu này chỉ dành tôn xưng Ðức Phật.

Bài kệ xưng tán Phật có bốn câu như sau:

Thiên thượng thiên hạ vô như Phật

Thập phương thế giới diệc vô tỉ

Thế gian sở hữu ngã tận kiến

Nhất thiết vô hữu như Phật giả.

Tạm dịch:

 

Trên dưới trời chẳng ai bằng Phật

Mười phương thế giới không ai hơn

Chính con nhìn khắp thế gian này

Tất cả không ai như Ðức Phật.

Vì sao Ðức Phật có trí tuệ siêu xuất không ai có thể so sánh nổi? – Kiến thức của thế gian là sự gom góp vay mượn từ bên ngoài, từ kinh nghiệm của người khác, nên chỉ có tính cách tương đối và thay đổi theo thời gian – không gian. Trí tuệ của Bậc Giác ngộ là trí không nhờ người khác mà được, chỉ do công phu thiền định phát sinh, nên thấu triệt và trùm khắp mọi sự vật hiện tượng. Bằng tâm định tĩnh nhưng hằng giác, Ðức Phật đã thấy – chứ không phải suy luận – tận cùng bản chất các pháp, nên những lời dạy của Ngài đều là chân lý muôn đời, bất di bất dịch.

Nhà đại bác học của thế kỷ 20, Albert Einstein, đã nói: “Ðạo Phật không cần thay đổi để phù hợp với sự tiến bộ của khoa học, vì Ðạo Phật chính là khoa học”. Thật ra, Ðạo Phật không chỉ là khoa học tự nhiên vì khám phá được bí mật của kiếp người, mà còn có tính siêu nhiên vì giáo lý của Ðạo Phật không bị quy luật đào thải của cuộc sống ảnh hưởng đến. Những nhận định của vị Giáo chủ Ðạo Phật về thế giới vạn hữu, trải qua hơn 2.500 năm vẫn còn giữ nguyên giá trị. Và khoa học càng tiến bộ, càng minh chứng rằng sự thấy biết của Ngài quả là minh triết, độc nhất vô nhị. Cho đến ngày nay, khi khoa học đã đoạt quyền tạo hóa bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm và sinh sản vô tính, vẫn không thoát khỏi Lý duyên sinh của Ðạo Phật. Ðiều đó chứng tỏ rằng, dù tri thức thế gian đã lên đến đỉnh cao, vẫn chỉ mới đi được một bước đầu tiên trên lộ trình tâm linh trong nhà Phật.  

8-  Ðiều ngự trượng phu:                             

“Ðiều ngự” có nghĩa là điều phục ngự chế. “Trượng phu”, về hình tướng thì chỉ phái nam, về nội dung là nói chung những người có tâm hồn quảng đại và có ý chí xuất trần. Danh hiệu này dùng tôn xưng Bậc trượng phu có khả năng điều phục ngự chế phiền não vô minh cho tất cả chúng sanh.

Chúng ta tôn vinh Ðức Phật là Bậc trượng phu, vì Ngài có đủ ba đức tính Ðại trí – Ðại bi – Ðại hùng, kết thành nhân cách vĩ đại của một vị Phật. Ðại trí là trí tuệ vô sư siêu tuyệt thế gian (Bát Nhã); Ðại bi là lòng thương chúng sanh vô hạn, ra vào sáu nẻo không biết mệt mỏi để cứu độ muôn loài; Ðại hùng là sức mạnh tinh thần vô biên, chiến thắng hết thảy nội ma và ngoại ma, trong đó những ma chướng bên trong là hung hãn và khó trị nhất.

Bài sám Quy mạng có bốn câu đề cập đến danh hiệu này:

 

Quy mạng thập phương Ðiều ngự sư

Diễn dương thanh tịnh vi diệu pháp

Tam thừa Tứ quả giải thoát Tăng

Nguyện tứ từ bi ai nhiếp thọ. 

Tạm dịch:

Quy y Ðiều ngự khắp mười phương

Diễn bày pháp vi diệu thanh tịnh

Chúng sanh chứng Tam thừa Tứ quả

Nguyện các Ngài từ bi thương xót.

“Tam thừa” là Thanh văn – Duyên giác và Bồ-tát thừa. “Tứ quả” là bốn quả vị của Thanh văn, gồm Tu-đà-hoàn (Sơ quả), Tư-đà-hàm (Nhị quả), A-na-hàm (Tam quả) và A-la-hán (Tứ quả), nhờ tu pháp Tứ Diệu Ðế mà chứng ngộ. Chúng sanh nhờ Ðấng Ðiều ngự khắp mười phương hoằng truyền chánh pháp, một lòng quay về nương tựa các Ngài tu tập, chứng các quả Thánh, giải thoát phiền não và ra khỏi nhà Tam giới.

9- Thiên nhơn sư:

Ðức Phật là bậc Thầy vĩ đại của Trời và Người. Trong kinh có kể, Ngài thường hóa thân lên các cõi trời thuyết giáo cho chư Thiên. Trong pháp hội của Ngài ở thế gian, giữa chúng Tỳ kheo và cư sĩ, thường có chư Thiên hiện diện để bảo hộ Ngài và cùng nghe pháp.

Ðối với loài người, Ðức Phật dạy rất đầy đủ về kiến thức thế gian và xuất thế. Không những Ngài chỉ bảo kỹ càng về cách đối nhân xử thế, cách sinh sống làm ăn, Ngài còn dạy cho người tu về công phu hành trì để được giác ngộ và giải thoát sinh tử. Giáo lý của Ðức Phật ghi lại trong tạng Kinh là một gia tài đồ sộ truyền thừa biết bao đời, đến nay vẫn còn phù hợp với thời đại. Ngài quả thật là một bậc Thầy chuẩn mực mà sinh động. Chuẩn mực vì lời dạy của Ngài phù hợp với chân lý tuyệt đối – tức khế lý; sinh động vì khế cơ khế thời, tùy đương cơ tùy thời đại mà sáng tạo nhiều phương tiện thích hợp. Phật giáo Ðại thừa theo tinh thần nhập thế, đưa tư tưởng đạo Phật hòa quyện vào nhân gian; người tu làm tròn bổn phận đối với đời mà vẫn vui với đạo. Từ đó, tất cả mọi người, dù thuộc dân tộc nào, sống ở thời đại nào, cũng đều hưởng lợi lạc, khi thâm hiểu giáo lý Phật-đà và tu hành theo chánh pháp.

Thiên nhơn chi Ðạo sư

Tứ sanh chi Từ phụ

Ư nhứt niệm qui y

Năng diệt Tam kỳ nghiệp

Xưng dương cập tán thán

Ức kiếp mạc năng tận.

Ðức Phật là Bậc Thầy của Trời người, là Ðấng cha lành của bốn loài noãn – thai – thấp – hóa sanh. Chỉ một niệm qui y, chúng sanh đã có thể diệt được nghiệp chướng của ba a tăng kỳ kiếp. Chúng ta nương theo Ngài tu hành, tinh tấn không lười mỏi, nhất định sẽ thành tựu đạo quả không nghi. Ðức Phật là vị cha lành của chúng sanh, vì nhờ Ngài mà chúng sanh có thể thoát được nỗi khổ lớn nhất – nỗi khổ trầm luân trong ba cõi sáu đường. Do đó, chúng ta ca tụng xưng tán Ngài bằng bao nhiêu lời, trong bao nhiêu kiếp, cũng không cùng tận.

10- Phật Thế Tôn:

Phật: Nguyên ngữ tiếng Phạn là Buddha; Trung Hoa phiên âm là Phật Ðà, dịch nghĩa là Giác giả tức Bậc Giác ngộ. Việt nam ta theo đơn âm, gọi tắt là Bụt (từ chữ Buddha) hoặc Phật (từ Phật Ðà).

Thế Tôn: Bậc tôn quý của thế gian. Ðức Phật đáng được người đời tôn kính bậc nhất, vì Ngài không còn vô minh phiền não, có trí tuệ siêu phàm và lòng từ bi vô hạn, là người dẫn đường cho tất cả chúng sanh đến bến bờ an vui giải thoát.

Danh hiệu này chỉ dành tôn xưng chư Phật. Bởi vì, nói về đoạn ly phiền não, giải thoát sanh tử (Ðoạn đức), thì các vị A-la-hán cũng tương đương với chư Phật. Nhưng về Trí đức tức chỗ giác ngộ tột cùng, và Hạnh đức là công hạnh giáo hóa chúng sanh trong vô lượng kiếp, thì không ai có thể ngang hàng với Phật. Vì thế, chúng ta còn tôn xưng Ngài là Bậc Toàn giác, Viên mãn giác, Diệu giác, Cứu cánh giác, vì Ngài đã giác ngộ đến chỗ toàn triệt, viên mãn, vi diệu và tột cùng. Chúng ta cũng nên biết rằng, tuy Ðức Phật Thích Ca lịch sử đã nhập diệt hơn 2.500 năm, nhưng đến hôm nay, Ngài vẫn thị hiện ở các cõi để tiếp tục độ sanh. Và các vị Bồ-tát hóa thân, vẫn lăn lộn vào sáu nẻo luân hồi, tùy duyên hành hạnh lợi tha, tuyên dương chánh pháp. Có điều, các Ngài không bao giờ để lộ cho ai biết mình là Phật, là Bồ-tát.

Học hiểu về ý nghĩa của Thập hiệu Như Lai, chúng ta càng hết lòng quý kính ngưỡng mộ đối với chư Phật, đặc biệt đối với Ðức Bổn Sư của chúng ta. Bởi vì, càng hiểu rõ về mười danh hiệu, chúng ta càng thấy Ngài thật vĩ đại, thật đáng tôn thờ và đáng là người dẫn đường cho tất cả chúng sanh. Hết lòng quy ngưỡng Ðức Phật, chúng ta cũng hết lòng quy ngưỡng chánh pháp do Ngài thuyết ra, như chiếc phao cứu hộ những kẻ sắp chết chìm giữa biển cả vô minh; hết lòng quy ngưỡng chư Tăng, những sứ giả Như Lai nối truyền mạng mạch Phật pháp. Từ đó, chúng ta nguyện phát tâm Bồ đề, trên cầu Phật đạo, dưới hóa độ chúng sanh; nguyện dâng hiến toàn bộ tâm ý mình cho sự nghiệp của Ðức Phật – sự nghiệp giáo hóa chúng sanh, hoằng truyền chánh pháp.


(*) Tuần san báo Giác Ngộ.

(*) Tài liệu tham khảo: Ðức Phật và Phật pháp - tác giả Nãrada Thera - Phạm Kim Khánh dịch - 1998: 60-67. 

(*)  Ðại phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh – Tập 4 trang 351 – HT Thích Trí Tịnh dịch.

 

Source: quangduc.com

 

Bài Tháng Năm . 2009


Biên tập: Cư sĩ Liên Hoa (Nhật Minh)
Sửa văn bản tiếng Việt và trình bày : Diệu Tịnh | Sửa văn bản tiếng Anh: Diệu Ngọc
Phụ trách mạng : Chánh Niệm | Email: Padma9mt@hotmail.com


You are visitor number since January 24, 2005