Phật pháp là con đường dẫn đến hòa bình cho nhân loại.  

 Pháp sư Ấn Thuận

 

 Thích Hạnh Bình dịch

 

          I. Ý NGHĨA CỦA SỰ HÒA BÌNH

Hòa bình vốn là nhu cầu chung cho nhân loại, khi đất nước bị chiến tranh, chém giết lẫn nhau thì nhu cầu hòa bình lại càng cấp thiết hơn. Nhưng ở đây có một vấn đề mà chúng ta cần thảo luận, từ cổ chí kim, nhân loại luôn luôn khát vọng hòa bình, yêu cầu và mong muốn được sống trong hòa bình, nhưng hòa bình tại sao không đến với chúng ta? Nếu ai đã đọc qua bộ “Thập nhị tứ sử” là bộ sử của Trung Quốc cho chúng ta nhận thức chung rằng, trong đó ghi lại toàn là những chuyện đánh đấm lẫn nhau, phần lớn thời gian là chiến tranh? Có lẽ đó chính là lý do tại sao con người mong cầu sự hòa bình? Muốn có sự hòa bình, cần phải tìm hiểu điều kiện nào dẫn đến sự hòa bình, không thể có sự hòa bình trong sự hận thù, chỉ có sự hòa bình trong sự thương yêu hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau. Những người tín đồ theo đạo Phật đối với việc hòa bình có nhu cần lớn hơn so với tín đồ của các tôn giáo khác. Là người Phật tử, chúng ta nên hiểu rõ lời giảng dạy của đức Phật, để thấy được ý nghĩa chân chánh của sự hòa bình chính là lòng từ bi của đạo Phật, xuất phát từ tinh thần đó, chúng ta mới có thể nỗ lực thực hiện sự hòa bình trong cuộc sống.

Nhân loại có nhu cầu bình an và hạnh phúc, đó là ý muốn chung của mọi người, do vậy chúng ta phải cùng nhau sống trong tinh thần hòa bình, nhưng hòa bình không thể có, khi con người chỉ dựa vào một ý niệm suông. Hòa bình không thể xây dựng trên sự thiếu hiểu biết mà phải được xây dựng trên lý trí. Thông thường chúng ta có suy nghĩ về hòa bình chỉ là mong muốn chấm dứt chiến tranh, đôi khi mang ý nghĩa không đúng. Ví dụ như A và B đánh nhau, A chiến thắng, B thất bại, B phải bồi thường, hiến đất, thậm chí phải chịu sự chinh phục, hoặc phải chịu nô dịch v.v… Đây không phải là sự hòa bình mà đây là hành vi của kẻ mạnh ăn hiếp kẻ yếu, cưỡng bức đối phương phải chấp nhận hòa bình, nếu không phải phải chịu hậu quả khốc liệt của chiến tranh. Vì để đáp ứng nhu cầu và tư lợi của mình, bằng mọi cách làm cho đối phương không còn ý chí chiến đấu, hoặc không còn khả năng chiến đấu, hoặc ngụy trang dưới chiêu bài hòa bình, thông qua con đường ngoại giao thỏa hiệp, nhưng chính mình lại bí mật dùng các thủ đoạn để được chiến thắng. Hình thức ngoại giao này có phải chăng là điều kiện dẫn đến sự hòa bình hay là yếu tố dẫn đến chiến tranh? Đây có thể gọi là sự lường gạt hòa bình, là mầm mống của chiến tranh. Nếu chúng ta hoàn toàn tin vào những khẩu hiệu này, có thể nói đó là sự nguy hiểm, là con đường tự chuốt lấy thất bại. Đây chẳng phải là yếu tố của hòa bình mà là sự bi kịch của hòa bình. Ngược lại, hoặc xuất phát từ thái độ cục bộ và cực đoan, không có yếu tố của hòa bình, làm cho cục diện càng ngày càng nghiêm trọng hơn, bất cứ lý do gì cũng không chịu thương thảo, quyết lấy chiến tranh, dẫn đến sự hy sinh tang tóc, cho rằng làm như vậy để đổi lấy sự hòa bình hay duy trì sự hòa bình, ngược lại đó là ý thức nuôi dưỡng chiến tranh không phải là hòa bình.

Chúng ta là người học Phật đương nhiên mong chuộng cuộc sống hòa bình. Là người Phật tử chân chánh quyết không thể làm những gì mang tính lường gạt, ngụy trang dưới hình thức hòa bình để trục lợi cá nhân mình. Là người con Phật, chúng ta không nên ca tụng chiến tranh đặc biệt là loại chiến tranh phi nghĩa.

Mặt trái của hòa bình là không hài hòa không bình đẳng. Sự bất hòa là nguồn gốc của ân oán, thù hận, xung đột, đấu tranh, không hợp tác. Không bình đẳng là ỷ mạnh hiếp yếu, ỷ đông hiếp kẻ cô thế, như vậy là không bình đẳng. Chân chánh của sự hòa bình chắc chắn không phải đến từ sự thù hận, xung đột, đấu tranh, cũng không thể xây dựng trên tinh thần bất bình đẳng. Sự hòa hợp và bình đẳng luôn luôn có mối quan hệ mật thiết, nếu thiếu một trong hai yếu tố này thì ý nghĩa bình đẳng không còn. Là người Phật tử, chúng ta không thể tán đồng sự ngụy trang hòa bình, chúng ta cũng không chấp nhận bất cứ nhân tố bất bình đẳng nào tồn tại trong đời sống của chúng ta.

II. NGUYÊN NHÂN CỦA SỰ BẤT HÒA

Mọi người đều mong muốn đời sống hòa bình, nhưng hòa bình không dễ thực hiện. Theo Phật pháp cho rằng, nguyên nhân của nó chính là ở trong tâm của chúng ta không hòa, cho nên mới biểu hiện hình thức ở bên ngoài, tâm và hình thức có mối liên quan mật thiết với nhau, vì có gió cho nên mới có sóng, tạo thành yếu tố khó có thể đạt đến sự hòa bình.

Khái niệm “bất hòa” trong kinh điển nhà Phật gọi là “tranh giành”. Thái độ “tranh giành” này được thể hiện trên ngôn ngữ và hành động, nhưng thật ra động cơ sâu xa của nó vốn từ trong tâm của chúng ta. Có hai loại cạnh tranh: 1. Kiến tranh, 2. Ái tranh. Nguồn gốc của hai loại tranh giành này xuất phát từ nơi “thọ” và “tưởng”, cho nên gọi thọ và tưởng là nguồn gốc của sự tranh giành. Kiến là kiến giải, nhưng kiến ở đây muốn nói đến những thái độ mang tính chủ quan của thành kiến, biên kiến, điên đảo, tà kiến. Khi chúng ta tiếp xúc với đối tượng nào, nhìn và hiểu sự vật thường mang tính chủ quan và phiến diện. Khi chúng ta tiếp xúc với đối tượng, tìm hiểu và so sánh sự vật này với sự vật nọ, vay mượn khái niệm để nhận thức về nó, tạo thành một chuỗi khái niệm quan điểm và tư tưởng cũng được tạo thành từ đó. Đây là quá trình của sự nhận thức của chúng sanh. Loại nhận thức này là sự nhận thức có giới hạn, mang tính phiến diện, là sự tưởng tượng vay mượn của tâm thức, bóp méo sự thật, khiến cho sự nhận thức không toàn diện, khó tránh khỏi sự nhận thức sai lầm và mâu thuẫn. Từ đó hình thành quan điểm tư tưởng sai lầm, đúng cho là sai, sai lại cho là đúng. Trong “Kinh Kim Cang” gọi sự nhận thức này là điên đảo mộng tưởng, Do đó thế gian hình thành sự tranh cải kiến chấp. “Kinh Chúng Nghĩa” ghi rằng: “Mỗi việc đều y nơi kiến giải của mình, dấy lên sự cạnh tranh hơn thua vô cớ; Biết như vậy là chân trí, biết khác là tà trí… Do vì căn cứ vào sự kiến giải sai lầm của mình, cho nên nó là nguyên nhân sanh các loại hí luận, nếu được trí tuệ suy xét thì phiền não không sanh”. Thật đúng như vậy, ở trên đời này ai lại không cho kiến giải của mình là đúng, ai lại không bảo vệ ý kiến của mình, phản bác ý kiến của người khác. Nếu như lấy thành kiến, biên kiến cho là chánh trí chánh kiến, thì bất cứ ý kiến nào cũng đều đúng là chân lý cả. Xuất phát từ loại nhận thức thiếu chánh kiến này, cho nên khi nhận thức bất cứ việc gì sẽ không rõ ràng, cho nên dẫn đến hổn loạn chánh pháp, việc đúng cho là sai, việc sai cho là đúng. Nếu đó là người xuất gia thì kẻ ấy sống trong tăng chúng tạo sự bất hòa, thường hay cùng mọi người tranh cãi; Nếu như đó là người tại gia thì cũng lại như thế, hay cùng người tại gia tranh luận hơn thua. Đức Phật rất thấu rõ việc này và khuyên chúng ta không nên vấp phải sai lầm đó, bằng cách nhìn sự vật bằng cặp mắt khách quan và như thật.

Ái là tham dục. Những loại như quyền lực, danh dự, giàu sang là những thứ con người tham đắm; Con người lấy việc ăn, mặc, ở và ngay cả vấn đề quan hệ tình dục của nam nữ làm đối tượng sống. Khi chúng ta tiếp xúc đối tượng, trong tâm sanh khởi tâm niệm “lãnh thọ”. Tâm niệm “lãnh thọ” này luôn luôn lúc nào cũng đi kèm với tâm, nếu không có tâm thì không có lãnh thọ. Đối tượng nếu là cái đẹp thích thú thì tâm sanh “lạc thọ”, luyến ái đắm trước đối tượng, tâm tham sinh khởi, muốn chiếm đoạt. Nếu đối tượng đó chưa có tâm luôn luôn truy cầu, nếu đã được rồi thì tâm lại muốn nhiều hơn nữa tốt hơn nữa, lòng tham muốn vô hạn. Phàm cái gì là sự vật thì cái ấy không thuộc quyền sở hữu vĩnh viễn của bất cứ ai, vì bản chất của nó là vô thường, nhưng thói quen của lòng ái, lại muốn sự vật đó thuộc về của mình, không chấp nhận sự biến đổi của luật vô thường, đây là ý niệm vô cùng sai lầm. Lòng ái dục là bản chất của chúng sanh, nó đã thúc đẩy tạo thành đời sống của con người luôn luôn có thái độ chiếm hữu, tôi mong cầu cái này hay cái kia thuộc về của mình, nhưng trong xã hội này không những chỉ có tôi mà còn nhiều người nữa, do vậy người khác cũng mong muốn cái này hay cái kia cũng thuộc về của mình, từ đó xuất hiện sự xung đột và cuối cùng là đấu tranh. Liên quan đến vấn đề này, đức Phật đã từng nói rõ: “Con người lấy dục làm gốc cho nên mẹ và con tranh cãi với nhau, cha con, anh em, chủng tộc… đấu tranh với nhau, vì lấy lòng dục làm căn bản, cho nên vua với vua tranh giành với nhau, dân với dân, nước với nước cùng nhau cạnh tranh, tương tàn tương sát, hoặc dùng tay chân, gậy gộc, đất đá, gươm đao chém giết lẫn nhau”. Từ xưa đến nay những loại đấu tranh giữa gia đình với gia đình, giữa quốc gia với quốc gia không có gì lạ, chẳng qua hình thức đấu tranh khác nhau mà thôi, ngày xưa thì dùng đao gươm gậy kiếm, bây giờ sử dụng vũ khí tối tân hơn, như là máy bay, hạm đội, súng đạn, các lọai bom như bom nhiệt, bom nguyên tử, hóa học, giết hại hàng loạt.

Nói tóm lại, mỗi người chúng ta đều có nhận thức riêng của mình, chẳng qua không hoàn bị, không triệt để, trong đó không ngoài ý niệm muốn người khác phục vụ làm theo ý kiến của mình, chúng ta có nhu cầu về vật chất, người khác cũng chẳng khác, nhưng mình lại muốn chỉ có mình thành tựu, người khác lại không, từ đó phát sanh mọi vấn đề. Tà kiến và ngã ái là hai loại nhu cầu sinh hoạt về vật chất và tinh thần của con người, là động cơ thúc đẩy sự xung đột, đấu tranh của con người, hai loại này bắt nguồn từ thọ và tưởng. Trong năm uẩn, thọ uẩn và tưởng uẩn là nguồn gốc của sự cạnh tranh về kiến và ái.

Những hoạt động của nội tâm không luận là loại cảm tình hay ý chí, tri thức. Bất cứ một loại ý niệm gì xuất hiện không chính đáng đều là nguyên nhân của sự đấu tranh, động cơ phát sinh phiền não. Do đó cho nên nói rằng: “Tất cả mọi phiền não đều từ cạnh tranh đấu tranh mà có”, nhất là khi chúng ta quá vui, quá giận, quá mơ tưởng, quá thất vọng, quá khổ đau… Nội tâm của chúng ta lúc ấy cũng giống như đám cháy ác liệt trong rừng, giống như sự mạnh bạo tàn phá của trận cuồng phong, giống như sự hung dữ của sóng thần, giống như sự cuồng nộ của sấm sét. Tất cả các loại phiền não này đều bắt nguồn từ ái, kiến, mạn và vô minh. Ái bao gồm ái tự thân và ái cảnh giới; Kiến bao gồm ngã kiến và ngã sở kiến (Thường kiến và đoạn kiến). Mạn là ngã mạn, tính tình này đặc biệt cao ngạo. Mỗi một sanh mạng của một chúng sanh là sự tương tục, sự tồn tại của nó là nương tựa lẫn nhau, hình thành sự tồn tại của một họp thể, trong đó bao gồm nhiều đơn vị, nhiều yếu tố tồn tại, thậm chí sự tồn tại của nó còn có liên quan đến thế giới chung quanh của nó. Thế nhưng, sự nhận thức của con người lại rơi vào sự sai lầm, cho rằng sự tồn tại của mình là độc lập, không liên hệ với những cái khác, từ đó hình thành khái niệm chấp ngã, nảy sanh ý niệm đối lập, đấu tranh và phát sinh lòng tự tôn và cao ngạo. Một cách tế nhị, nếu chúng ta phân tích lòng tự tôn và cao ngạo này, nó là nhân tố để hình thành quan điểm quyền lực muốn khống chế kẻ khác. Nhưng từ ý muốn đến thựt tế là hai vấn đề khác nhau, đôi khi lực bất tòng tâm, do vậy hình thành sự sân hận, thù địch, nói xấu lẫn nhau, tàn sát lẫn nhau, thậm chí thấy sự thành công của kẻ khác, mặc dù việc đó cùng với mình không có liên hệ, nhưng cũng sanh lòng ganh ghét, lo âu, buồn rầu. Sự kiện này so với kiến chấp và vật dục càng nghiêm trọng. Tà kiến từ sự phân biệt sai lầm mà có, ái từ tình cảm quá độ mà sanh, cao ngạo từ ý chí cá nhân mà có. Ba ý niệm này đều xuất phát từ những tâm lý không chính đáng, nó có liên hệ với vô minh. Nói một cách khác, vì vô minh cho nên con người không nhận thức được chân tướng của vạn pháp, đặc biệt là không nhận thức được tự thân của chính mình là giả họp. Vô minh hoặc còn gọi là ngu si, là sự nhận thức sai lầm biểu hiện thành ba mặt tình cảm, ý chí và tri thức đều sai lầm. Do đó, nguyên nhân sâu xa của lòng đấu tranh thù hận là vô minh. Đây là nguyên nhân tại sao mọi người sống trong cùng một xã hội nhưng không bình đẳng, con người sống với nhau không hòa bình, cũng là lý do tại sao con người không được giác ngộ và giải thoát.

III. NGUYÊN NHÂN CỦA SỰ KHÔNG BÌNH ĐẲNG

Sự đấu tranh không luận ở dưới hình thức nào, bằng lời nói hay hành động đều xuất phát từ một sự kiện nào đó, việc này được gọi là “tranh sự”, tức là vì một sự kiện nào đó mà dẫn đến sự tranh đấu. Sự kiện tranh đấu này là do sự phân chia quyền lợi không bình đẳng mà sanh. Chính vì yếu tố này mà đức Phật qui định tăng đoàn cần phải tuân thủ 3 nguyên tắc: Kiến hòa đồng giải, giới hòa đồng hành và lợi hòa đồng quân. Mục đích của ba nguyên tắc này là muốn cho cộng đồng Tăng già sống trong sự bình đẳng, từ yếu tố bình đẳng hình thành một cộng đồng sống chung với nhau hòa hợp. Nếu như trong cuộc sống không bình đẳng thì khó mà hình thành cuộc sống hòa hợp.

Kiến là tư tưởng; giới là giới điều, là nguyên tắc; Lợi là những điều kiện sinh hoạt về vật chất thuộc về kinh tế. Tất cả những sự tranh cãi, đấu tranh không ngoài ba vấn đề là tư tưởng, pháp chế và kinh tế. Sự phân chia ba yếu tố này không hợp lý không bình đẳng là những yếu tố ngoại tại, vì sự phân chia không bình đẳng ở bên ngoài cho nên tạo thành tâm tư không hòa hợp bên trong. Do vì tâm tư không hòa hợp cho nên tạo thành gia đình cãi vả với nhau, hàng xóm mắng nhiếc tranh tụng lẫn nhau, tổ chức với tổ chức, quốc gia với quốc gia đấu tranh, chém giết, tàn sát lẫn nhau.

Những nhà duy vật cường điệu về những nguyên nhân không bình đẳng từ bên ngoài, nhất là sự không bình đẳng về đời sống kinh tế, cho nên căn cứ vào kinh tế, lấy nó làm thước đo để thiết lập chế độ xã hội. Các nhà duy tâm luận thì ngược lại đặc biệt chú trọng những yếu tố từ trong nội tâm, cho nên cường điệu về giá trị đạo đức, lấy đạo đức làm căn bản để thiết lập chế độ xã hội. Quan điểm của Phật giáo không giống như các nhà duy vật hay duy tâm, ngược lại cho rằng, yếu tố bên ngoài là đời sống kinh tế và yếu tố bên trong là giá trị đạo đức hay nói đúng hơn là tư tưởng có mối quan hệ mật thiết với nhau, do đó không thể tách rời hai yếu tố này để bàn thảo về xã hội. Xã hội được hòa bình hoặc không được hòa bình yếu tố kinh tế bình đẳng đóng một vai trò rất quan trọng. Yếu tố kinh tế ở bên ngoài không phải là yếu tố tuyệt đối để được hòa bình, nhưng nó là yếu tố tương đối tồn tại một cách khách quan, có mối quan hệ mật thiết giữa yếu tố bên trong và bên ngoài, vì tư tưởng xuất hiện do sự tương tiếp giữa tâm và cảnh, do vậy những nhân tố từ nội tâm thuộc về tri kiến chịu ảnh hưởng từ những yếu tố ngoại cảnh. Thế thì từ sự suy nghĩ của cá nhân hình thành sự xung đột về tư tưởng, điều đó chắc chắn phải được hình thành giữa hai luồng tư tưởng khác nhau giữa mình và kẻ khác. Kinh tế là những nhu cầu cần thiết cho cuộc sống, những yếu tố hình thành lòng ái, có mối quan hệ mật thiết với kinh tế, từ cá nhân truy cầu về đối tượng vật chất hình thành sự tranh chấp về kinh tế chiếm hữu, điều đó tạo thành sự xung đột giữa sự truy cầu cá nhân mình và người khác.

Pháp luật là nguyên tắc hoạt động giữa mình và người khác, đây là sự biểu hiện mối quan hệ giữa mình và người khác; Nguyên nhân của lòng kiêu mạn đều có mối quan hệ mật thiết với pháp luật. Nguyên nhân mà thế gian phát sanh sự tranh giành lẫn nhau, dẫn đến đời sống không hòa bình đều phát xuất từ yếu tố vật chất bên ngoài và nguyên nhân tri kiến ở bên trong. Tóm lại, nguyên nhân của sự bất hòa và không bình đẳng, bao gồm những yếu tố là mối quan hệ giữa tâm và vật, tâm và cảnh, mình và người, biểu thị mối quan hệ giữa mình và người. Trong mối quan hệ giữa mình và người chúng ta bằng cách nào để điều tiết hợp lý giữa tư tưởng, pháp luật và kinh tế.

IV. THẾ GIAN LẤY YẾU TỐ BÊN NGOÀI LÀM YẾU TỐ CHÍNH CHO SỰ HÒA BÌNH

Đối với vấn đề hòa bình, cần chú ý đến tinh thần xuất thế, có nghĩa là những nhân tố để xây dựng  nền hòa bình phải được xây dựng từ trong lòng mỗi người, mỗi người phải có tâm hòa hiếu, sự hòa bình sẽ lâu dài, nếu hòa bình chỉ dựa vào những qui ước bên ngoài, nhưng trong tâm của mỗi người lại không có lòng hòa thuận, sự hòa bình đó mang tính ước lệ, sẽ không vững chắc. Thế nhưng, trong lòng có sự hòa hiếu, nhưng không có những qui định cụ thể bằng những ước lệ cụ thể thì sự hòa hiếu cũng khó thực hiện một cách tương đồng, tồn tại lâu dài, do vậy, nền hòa bình cần phải có hai yếu tố từ bên trong và những ước lệ bên ngoài. Hôm nay, chúng ta từ góc độ Phật giáo Đại thừa căn cứ từ tinh thần xuất thế và nhập thế chia ra làm ba phương diện để thảo luận đến vấn đề hòa bình. 1. Yếu tố hòa bình từ bên ngoài, 2. Yếu tố hòa bình từ bên trong, 3. Yếu tố hòa bình do từ bên ngoài và trong.

Thông thường nói đến hòa bình là chúng ta thường đề cập đến những yếu tố bên ngoài đưa đến hòa bình. Đồng thời nói đến phạm vi hòa bình là nói đến quốc gia, nhưng sự hòa bình đó muốn được bảo đảm, tất nhiên nó có liên hệ đến sự hòa bình của thế giới, đó là những quốc gia khác nhau. Ở đây chúng ta căn cứ tính hòa hợp của Phật giáo thảo luận đến hòa bình.

1. Tư tưởng hòa bình

Trước hết chúng ta cần hiểu rằng, tư tưởng bất bình đẳng là nhân tố phá hoại sự hòa bình, bất cứ là tôn giáo nào, hệ thống triết học nào hay nền chính trị nào, tự cho quan điểm của mình là đúng, không đồng với quan điểm của mình là sai, quan điểm đó cần phải loại trừ tiêu diệt. Đây là quan điểm cực đoan lại vừa độc đoán, nó là nhân tố dẫn đến chia rẽ, mất đoàn kết, giữa người với người, giữa người với xã hội, giữa xã hội này với xã hội khác, không phải là nhân tố hòa bình, thế giới đã và đang xảy ra chiến tranh, xét cho cùng nó đều phát xuất từ những tính cực đoan này. Phật pháp cho rằng, mỗi người đều có quan điểm sống riêng, không ai giống với ai cả, vì mỗi người đều có mỗi hoàn cảnh khác nhau, khi đã có hoàn cảnh sống khác nhau, giáo dục khác nhau thì không thể có quan điểm sống giống nhau, đây là sự thật, nhưng điều đáng tiếc ít người chấp nhận sự thật này, do đó xã hội đã xảy ra biết bao chiến tranh. Muốn có cuộc sống hòa bình giữa mình với mọi người, giữa mình với xã hội, cần có thái độ tôn trọng quan điểm sống văn hóa của kẻ khác, cần có tấm lòng bao dung và tha thứ. Như vậy, tư tưởng độc đoán, luôn luôn là yếu tố phá hoại sự hòa bình.

2. Chính trị và luật pháp đặt trên nền tảng    hòa bình

Chính trị là nguyên tắc hợp lý quản lý xã hội. Mỗi người đều có quyền tham gia công tác này. Vì sự an toàn và bình đẳng cho mọi người cho nên cần có pháp luật. Pháp luật nên công khai và bình đẳng, trước pháp luật không nên có sự nhân nhượng hay quyền đặc biệt nào, cũng không nên vì quyền lợi cá nhân mà phá hoại luật pháp. Muốn có sự bình đẳng trong chính trị, cần chú ý đến hai yếu tố: Giáo dục và vật chất. Trước hết là giáo dục. Giáo dục cần được bình đẳng, tức mọi người dân đều có quyền học tập như nhau, người tham gia công tác chính trị phải là người có tài năng và đạo đức, nếu người tham gia công tác làm chính trị mà thiếu khả năng, không tài không đức rất nguy hiểm cho xã hội.

Thứ hai là vấn đề vật chất, bình đẳng về chính trị, điều đó đồng nghĩa người làm chính trị không bị chi phối bởi vật chất. Ví dụ, việc bầu cử đã lợi dụng vật chất để tuyên truyền, không những tốn hao tiền của mà đôi khi làm mất tính công bằng trong cạnh tranh. Cách tốt nhất trong việc bầu cử, nên cạnh tranh bằng quan điểm trị nước quản lý xã hội, giải quyết vấn đề hơn là nói xấu lẫn nhau, dùng vật chất tuyên truyền. Nếu như dùng vật chất, sự giàu có để tranh giành công tác chính trị, điều đó biểu thị thái độ không bình đẳng, không dân chủ. Sự cạnh tranh về chính trị, sự công kích giữa đảng này đảng kia… Thật tế mà nói, điều này biểu hiện xã hội không bình đẳng không dân chủ.

 

3. Nền kinh tế có xu hướng hòa bình

Căn cứ tinh thần bình đẳng và hòa hợp, thảo luận đến sự quốc tế hòa bình. Từ phương diện tư tưởng, nên lấy tinh thần tự do làm nhịp cầu cảm thông, tuyệt đối không nên sử dụng quyền lực hay kinh tế làm nền tảng xây dựng nền hòa bình. Bất cứ quốc gia hay bất cứ tổ chức quốc tế nào, nếu sử dụng vũ lực hoặc gây sức ép về kinh tế, hay bất cứ một yếu tố bất chính nào khác, có khuynh hướng khuynh đảo lũng đoạn đến một quốc gia khác thì đó không thể gọi là hòa bình. Ngược lại được hiểu là sự phá hoại nền hòa bình, là hành vi tội ác, mang tính chất xâm lược. Giữa các nước với cần có sự bình đẳng, được giao lưu về mặt giao lưu văn hóa, tư tưởng… Người có ý đồ khuynh đảo văn hóa tư tưởng của một quốc gia khác, cần phải cấm tuyệt sự giao lưu; Những người có ác tâm trong lãnh vực chính trị, với ý đồ muốn chinh phục thống trị quốc gia khác, cần phải vạch trần ác tâm đó, để dân chúng không rơi vào âm mưu tà vạy của chúng… Về phương diện chính trị, nên tôn trọng sự dị biệt về phong tục tập quán, văn hóa bất đồng giữa các khu vực khác nhau, không nên căn cứ những điều mà mình thích, lấy đó làm tiêu chuẩn, bắt người khác chấp nhận, quốc gia khác phải chấp nhận cái của mình, vì điều đó sẽ là nguyên nhân gây sự xung đột bất hòa.. Tuyệt đối không nên sử dụng vũ lực kinh tế hay bất cứ âm mưu bất chính nào khác, cưỡng bức quốc gia khác thực thi chính sách không hợp lý, với mục đích đạt đến mục tiêu của mình, điều đó không phải là sự hòa bình mà là sự áp bức, xâm lược. Về phương diện kinh tế, nên cùng nhau hợp tác, chia đều lợi nhuận, các nước tiên tiến không nên lợi dụng bất cứ một đặc quyền đặc lợi bất chính nào áp đặt lên nước khác.

Nếu như chúng ta thực hiện được những nguyên lý này, đó là yếu tố chính đáng để có một quốc gia hay thế giới hòa bình. Một quốc gia một thế giới như thế là cõi Tịnh độ ở nhân gian. Đây cũng là sự bình đẳng, tự do, dân chủ thật sự, hòa bình chân chính.

V. YẾU TỐ HÒA BÌNH TỪ NỘI TÂM

Những yếu tố hòa bình từ bên ngoài và tấm lòng mong muốn hòa bình từ bên trong là hai nhân tố rất quan trọng và chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Nếu như ngoại cảnh đầy những nhân tố đưa đến chiến tranh cạnh tranh, bên trong tâm tư mọi người lại có tâm không sáng suốt, định kiến, chứa đầy lòng sân hận và ngã mạn, nơi đó thù hận và chiến tranh khó tránh khỏi. Muốn có nền hòa bình, trước tiên cần phải có con người hòa bình. Người hòa bình là người biết tôn trọng sự sống, biết tu nhân tích đức, biết nhận thức và chấp nhận sự sửa đổi những sai lầm từ thân tâm, phải loại bỏ tâm tư định kiến, lòng kiêu mạn và tham lam, phát huy trí tuệ và lòng bao dung, đây là những yếu tố xây dựng nền hòa bình chân chính.

trên vừa trình bày, phần lớn người thế gian thường chú trọng đến yếu tố hòa bình từ bên ngoài, điều đó không đồng nghĩa là không cần đến những nhân tố từ bên trong nội tâm. Nếu như bên ngoài có nhân tố hòa bình, nhưng trong lòng mỗi người lại mang đầy lòng thù hận và định kiến thì nền hòa bình cũng sẽ tan vỡ.

Nói đến yếu tố hòa bình từ bên trong là nói đến nhân tố tịnh hóa thân tâm của con người, nếu như trong lòng mỗi người đều có tư tưởng hòa bình thì chắc chắn sẽ có qui ước về nền hòa bình và hòa bình sẽ hiện thật. Xã hội không có hòa bình vì con người trong xã hội đó không có lòng bao dung và trí tuệ. Nếu như con người đã được tịnh hóa, sống với ánh sáng trí tuệ, chính trí tuệ là bảo kiếm đoạn trừ các tà kiến, dứt sạch phiền não và vô minh, lòng bao dung cũng từ đó xuất hiện. Trong long mỗi người có bi và trí thì nền hòa bình không thể không xuất hiện ở thế gian.

VI. SỰ HÒA HỢP CỦA HAI YẾU TỐ HÒA BÌNH TỪ BÊN NGOÀI VÀ BÊN TRONG LÀ CỨU CÁNH HÒA BÌNH

Nhân tố nội nhân ngoại duyên, xuất thế và nhập thế đều quan trọng, là tinh thần của Phật giáo Đại thừa, với mục đích thành tựu hòa bình cứu cánh, trang nghiêm cõi Tịnh độ. Nếu như chỉ chú trọng đến ngoại duyên hòa bình trong ước lệ, thì sự hòa bình đó không rốt ráo, không triệt để. Nếu như chú trọng nội nhân hòa bình, không chú ý đến ngoại duyên, tức đem sự hòa bình đến mọi người thì quan niệm hòa bình đó mang tính hạn hẹp. Nền hòa bình thật sự phải được xây dựng trên cơ sở nội nhân và ngoại duyên mới có thể giải tỏa được chiến tranh của thế gian, vì tâm đã hòa bình thì nó là nhân tố để dẫn đến xã hội, và ngay cả thế giới hòa bình.. Đây chính là tinh thần của Phật giáo Đại thừa.

Người học Phật cần phải hiểu rằng, thế gian pháp và Phật pháp là hai pháp giống nhau. Sự hòa bình của thế gian và tâm địa xuất thế gian đều đặt trên cơ sở là tịnh hóa, làm trong sạch tâm hiếu chiến, đầy hận thù. Lòng hiếu chiến không hòa bình, tuy là cá tính của mỗi chúng sinh, được biểu hiện qua sự tham đắm chấp trước về các lãnh vực kinh tế, văn hóa, chính trị... nó chính là nhân tố dẫn đến cạnh tranh chiến tranh cho xã hội. Trong nội tâm của mỗi người tràn đầy lòng vị kỷ, cố chấp, thành kiến và ngu si thì làm gì có xã hội hòa bình, như vậy là sự liên đới giữa cá thể và tập thể, giữa tâm hòa hiếu từ cá nhân đến sự hòa bình từ xã hội.

Quan điểm của Phật giáo Đại thừa là không những chỉ tịnh hóa (giáo dục) từng cá nhân mà còn phải tịnh hóa mọi người và ngay cả quốc độ.

Tinh thần Bồ tát đạo của Phật giáo Đại thừa là tinh thần thực thi tinh thần hòa bình cho tất cả mọi người. Mang lại sự hòa bình cho mọi người, có nghĩa là mang lại sự hòa bình và an lạc cho chính mình, làm lợi ích cho mọi người cũng là làm lợi ích cho chính mình. Đây là tinh thần tự lợi lợi tha, lợi tha tức tự lợi của Phật giáo Đại thừa.

 Người Phật tử chân chính là người mong cầu sự chân chính hòa bình, muốn có nền hòa bình chân chính cần phải có tâm hòa bình, tâm hòa bình là tâm không tham lam sân hận và ngu si. Sự hòa bình bằng những ước lệ bên ngoài là sự hòa bình trong giả tạm. Do vậy, nếu như chúng ta muốn có nền hòa bình không thể dùng vũ lực, kinh tế hay bất cứ lý do không chính đáng nào làm cơ sở cho nền hòa bình.

Source: tuechung.com

 

Bài Tháng Bảy . 2009


Biên tập: Cư sĩ Liên Hoa (Nhật Minh)
Sửa văn bản tiếng Việt và trình bày : Diệu Tịnh | Sửa văn bản tiếng Anh: Diệu Ngọc
Phụ trách mạng : Chánh Niệm | Email: Padma9mt@hotmail.com


You are visitor number since January 24, 2005