Có rất nhiều người học Phật, muốn thông qua phương pháp
tham thiền, mở toang cánh cửa phàm Thánh, liễu thoát
được sanh tử nhiều đời, chuyển phàm thành Thánh, trở
thành vị thấy đạo không ngăn ngại, chứng được giải thoát
tự do tự tại. Nhưng đối với sự tham thiền thì phải dụng
tâm, thể hội, thực hành thế nào, tham cứu, thọ dụng ra
sao…
Muốn làm sao
ngay trong kinh Phật lời Tổ có thể tìm được đáp án sẵn
có là điều rất khó, dù có nói ra cũng là những điều phủ
định, thật ra người chạy theo ngôn ngữ thì mất mạng, kẻ
đuổi theo câu cú là si mê, thủ thuật hướng thượng không
có chỗ cho người cắm mỏ vào, người hỏi liền bị ăn ba
mươi gậy. Các vị thiền sư chủ trương không luận thiền
định giải thoát, chỉ cần tự thấy bản tánh, lấy vô niệm
làm tông, vô tướng làm thể, vô trụ làm gốc, phàm rơi vào
ngôn ngữ nói năng đều là sai lầm, chẳng nghi câu nói rất
nguy hiểm, khởi tâm tức trái động niệm liền sai, nói in
tuồng một vật tức chẳng trúng, nói một chữ Phật hổ thẹn
đầy mặt, niệm Phật một câu súc miệng ba ngày, giống như
người đứng ở ngã tư đường, không phân biệt rõ hướng nào
là Đông Tây Nam Bắc, chẳng biết đi hướng nào mới phải.
Thế nên liền hành khước tha phương cầu thầy hỏi đạo,
muốn ngay nơi bổn phận chính mình mọi việc rõ ràng,
nhưng từ trước phương tiện tiếp dẫn học nhân của các nhà
chẳng đồng, có thuyết nói đương thể là Phật, chẳng cần
tham đi học lại ắt sẽ giải thoát; có thuyết nói mày
ngang mũi dọc vốn là Phật, chỉ cần luôn luôn gìn giữ là
phải; có thuyết nói muôn việc vô tâm chỉ hỏi mình là ai,
tự nhiên khế hợp; có thuyết nói vô tâm tĩnh tọa lâu ắt
sẽ ngộ; có thuyết nói buông bỏ tất cả mặc áo ăn cơm, thể
tánh vốn có sẵn, có thuyết nói chẳng nhiễm một vật ắt sẽ
thành Phật; có thuyết nói một niệm tịnh tâm chính là
tham thiền; có thuyết nói chỉ cần tham thiền, cuối cùng
là diệu ngộ; có thuyết nói cần được diệu ngộ, ắt phải
vượt qua cửa ải; có thuyết nói tham một câu thoại đầu
liền được khai ngộ… các thuyết như thế đúng đều là đúng,
sai thì hoàn toàn là sai, khiến cho người tham thiền
biết đâu đoán định, giống như kẻ ngu ngốc tìm không được
bí quyết.
Thiền tông
dùng Phật ngữ tâm làm tông, lấy vô môn làm pháp môn, đã
là vô môn như vậy làm sao hiểu. Tổ sư nói: “Người từ cửa
mà vào chẳng phải là của báu trong nhà, người từ nhân
duyên mà được trước sau cũng hoại, nói như thế rất giống
quơ gậy đập mặt trăng, cách lớp giày mà gãi ngứa, mãi
mãi không có ngày ra khỏi sự trói buộc”. Thật ra không
phải thế, thiền tuy sâu xa nhưng vẫn có cửa để vào.
Trong kinh
Hoa Nghiêm phẩm Như Lai xuất hiện ghi: “Chư Phật tử! Trí
tuệ Như Lai trùm khắp tất cả, vì cớ sao? Không có một
chúng sanh nào mà không có đầy đủ trí tuệ của Như Lai,
nhưng vì vọng tưởng điên đảo chấp trước mà không chứng
được, nếu lìa vọng tưởng thì Nhất thiết trí, Tự nhiên
trí, Vô ngại trí, liền được hiện tiền”. Đây là lời dạy
của Đức Thích Ca Như Lai lúc mới thành đạo, cũng chính
là nguồn gốc và bản chất của thiền. Trong kinh Phật dạy,
trí tuệ Như Lai mỗi người đều sẵn đủ, chỉ do vọng tưởng
chấp trước mà chẳng chứng được. Như Lai do tu tập thiền
định mà được khai ngộ, như vậy chúng ta cần chỉ tận tâm
tham cứu thiền định, thì cũng có thể phát sanh trí tuệ
căn bản vô lậu và chứng được trí Nhất thiết trí. Thiền
là gì? Chính là tâm của chúng ta. Tâm là gì? Chính là
thể của thiền, cho nên nguồn gốc của thiền ngay ở chỗ
chánh giác của Đức Thích Tôn. Chánh giác tức là tâm
thiền, thể thiền. Phương pháp dụng tâm tham cứu thấy
suốt nguồn gốc của tâm, tức là chứng được yếu chỉ cội
nguồn. Nguồn gốc của Thiền tông từ chánh giác của Đức
Phật, chứ không ở trong ngôn ngữ văn tự, cần phải lãnh
hội ý nghĩa chánh giác, lấy tâm làm tông.
Thiền là
tiếng Phạn, nói gọn là Thiền na, tiếng Hán dịch là tư
duy tu, cũng gọi là tĩnh lự, nghĩa là dừng lắng ý niệm
loạn động, cũng gọi là định tuệ, biết nguồn gốc và ý
nghĩa của thiền, thì cảm thấy cửa thiền là phương tiện
có thể vào được.
Truyền đăng
lục ghi: “ Đức Thế Tôn ở trên hội Linh Sơn đưa cành hoa
dạy chúng, lúc ấy đại chúng đều im lặng, chỉ có Tôn giả
Ca Diếp nét mặt rạng rỡ mỉm cười. Thế Tôn nói: “Ta có
Chánh pháp Nhãn tạng, Niết bàn diệu tâm, thật tướng vô
tướng, pháp môn vi diệu, chẳng lập văn tự, có cách
truyền khác ngoài giáo, nay truyền trao cho Ma ha Ca
Diếp”. Ở đây Đức Thế Tôn và Ma ha Ca Diếp ngay khi đưa
cành hoa và mỉm cười, tâm tâm hai Ngài khế hợp nhau, Đại
pháp được trao và nhận ở khoảng giữa ấy, ngài Ca Diếp
trở thành Tổ thứ nhất được truyền thừa, truyền trao như
thế là hoàn toàn trao và nhận một cách công khai, tuyệt
không có một mảy may nào thần bí, thì không gì chẳng
phải là giáo ngoại biệt truyền, dùng tâm truyền tâm mà
thôi.
Từ đó truyền
trao cho đến vị Tổ thứ 28 là Bồ Đề Đạt Ma. Tổ từ Ấn Độ
sang Trung Hoa đề xướng Thiền pháp không dính dáng chữ
nghĩa, không trải qua tu chứng chỉ thẳng tâm người, thấy
tánh thành Phật trở thành Sơ Tổ Thiền tông Trung Quốc.
Trong Huyết mạch luận Ngài nói: “Nếu cần tìm Phật chỉ
cần kiến tánh, tánh tức là Phật, Phật là người tự tại là
người vô sự vô tác, nếu chẳng kiến tánh suốt ngày mờ mịt,
hướng ngoài rong ruổi tìm Phật, hóa ra chẳng được”. “Tâm
chính là Phật, vô tâm là đạo”. Ta cho rằng hai câu nói
này có thể làm phương tiện vào cửa tham thiền. Thiền là
Tâm tông, cần phải thể hội tâm chánh giác, mới có thể
ngộ được tâm chính là Phật, chỉ có chứng ngộ mới biết.
Tâm chúng sanh đều là vọng tưởng, chỉ có đoạn trừ vọng
tưởng là hoàn toàn vô tâm, mới có thể thông suốt tâm
chính là Phật, một phen chết sạch sau mới có thể sống
lại, vô tâm rồi sau đó chơn tâm mới hiện tiền, tâm và
pháp giới cùng đồng một thể, không ngăn ngại, trí cảnh
đều quên, hoàn toàn không nương gá. Cái không nương gá
này cũng chẳng còn mới là đại giải thoát.
Mã Tổ Đạo
Nhất dạy chúng rằng: “Các ông đều đã tự tin tâm là Phật,
tâm ấy tức là tâm Phật. Đạt Ma Đại sư từ Nam Thiên Trúc
sang Trung Hoa truyền pháp thượng thừa nhất tâm, khiến
các ông khai ngộ. Lại dẫn kinh Lăng Già để ấn chứng tâm
địa chúng sanh, sợ các ông điên đảo chẳng tự tin, tâm và
pháp ấy mỗi người đều có. Cho nên kinh Lăng Già ghi:
“Phật nói tâm làm tông, vô môn làm pháp môn”. Lại ghi:
Người cầu pháp nên không cầu gì cả, ngoài tâm không Phật
khác, ngoài Phật không tâm khác, chẳng giữ điều thiện,
chẳng bỏ điều ác, tịnh và uế đều không nương tựa, thấu
suốt tánh tội vốn không, niệm niệm không thể được, đều
không tự tánh, cho nên tam giới chỉ là tâm, sum la vạn
tượng chỉ là một pháp ấn”.
Lời chỉ dạy
này của Mã Tổ, đối với ý nghĩa tức tâm tức Phật (tâm
chính là Phật là rất rõ ràng. Lúc ấy có Pháp Thường Đại
Mai ban đầu tham kiến Mã Tổ hỏi: Như thế nào là Phật? Mã
Tổ đáp: tức tâm tức Phật. Pháp Thường liền lãnh ngộ, bèn
về núi ở ẩn. Mã Tổ sai một vị Tăng đến hỏi sư: Ông được
điều gì mà về trụ núi này? Sư nói rằng: Mã Đại sư nói
với tôi tức tâm tức Phật, tôi liền về đây ở. Tăng nói:
Đại sư gần đây Phật pháp lại khác, ngài nói phi tâm phi
Phật. Pháp Thường nói: Mặc cho ông ấy phi tâm phi Phật,
tôi vẫn tức tâm tức Phật. Vị Tăng ấy về thuật lại cho Mã
Tổ nghe. Mã Tổ nói: trái mai đã chín! Ấn chứng sự kiên
trì tức tâm tức Phật của Pháp Thường là chính xác, Mã Tổ
khen ngợi nhận thức về thiền và công phu tham cứu của sư
đã thành thục.
Tức tâm tức
Phật (tâm chính là Phật) là quan điểm căn bản của Thiền
tông, là chủ trương từ xưa đến nay của các vị đại thiền
sư. Như Tăng Pháp Hải tham kiến Lục Tổ Huệ Năng hỏi
rằng: Tức tâm tức Phật cúi xin ngài chỉ dạy cho. Tổ đáp:
Niệm trước chẳng sanh tức tâm, niệm sau chẳng diệt tức
Phật. Thành nhất thiết tướng tức tâm, ly nhất thiết
tướng tức Phật. Tôi nếu nói đầy đủ cùng kiếp cũng không
hết.
Nghe ta nói
kệ:
Tức
tâm là huệ.
Tức Phật là định.
Định huệ bình đẳng,
Trong ý thanh tịnh,
Ngộ pháp môn này,
Do ông tập tánh.
Dụng vốn vô sanh,
Song tu là chánh.
Pháp Hải
ngay lời nói đó đại ngộ. Làm kệ tán thán:
Tức
tâm vốn là Phật,
Chẳng ngộ, tự trái lý,
Con biết nhân định huệ,
Song tu lìa các vật.
Chứng tỏ khi
lãnh ngộ được lời tức tâm tức Phật thì có thể đại triệt
đại ngộ, thẳng đến chỗ vô ngại, giải thoát tự tại. Đặc
biệt là: “Thành nhất thiết tướng tức tâm, ly nhất thiết
tướng tức Phật”, người tham thiền đáng nên cần phải tham
cứu và thể nghiệm, không nên bỏ qua.
Ngũ Tổ Hoằng
Nhẫn đã từng nói với Lục Tổ rằng: “Chẳng biết bản tâm,
học đạo vô ích. Nếu biết bản tâm, thấy tự bản tánh, gọi
là Đại Trượng phu, Thiên Nhân sư Phật”. Lời dạy này hoàn
toàn giống với lời nói của Phật trong kinh Hoa Nghiêm:
“Tâm, Phật và chúng sanh, đó là ba thứ không sai biệt”.
Cho nên lúc Sơ Tổ truyền pháp cho Nhị Tổ Huệ Khả nói:
“Ngoài dứt các duyên, trong tâm không nghĩ tưởng, tâm
như tường vách, mới có thể vào đạo”. Cũng là chỉ thẳng
tâm vi diệu hay là thể tánh nguồn thiền. Tông chỉ này
được dựng lập từ Tổ Đạt Ma, truyền khắp đến các chư Tổ.
Do vì người tham thiền học đạo, kẹt vào ngôn ngữ kinh
giáo, trọn không thể nhập tâm vi diệu, ngay đó thành
Phật, cho nên Tổ Đạt Ma đề xướng bất lập văn tự giáo
ngoại biệt truyền, truyền thẳng diệu tâm, ngộ tâm này là
Phật, tuy muôn kiếp luân hồi mà Phật tánh thiên chơn vốn
chẳng động và không biến đổi.
Nhị Tổ sau
khi ngộ được diệu tâm nguồn thiền, bỗng nhiên hướng về
Sơ Tổ thưa rằng: "Con đã dứt hết các duyên." Sơ Tổ hỏi:
"Đâu chẳng phải thành đoạn diệt sao?" Nhị Tổ đáp: "Không
rơi vào đoạn diệt, rõ ràng thường biết, nói không thể
đến." Sơ Tổ ấn chứng: "Đây là tâm thể mà chư Phật truyền
trao."
Bởi vì lìa
bỏ các duyên nên tướng ngoại cảnh lặng lẽ, trong tâm
không nghĩ tưởng, thì sự suy nghĩ bên trong đều dứt,
giống như tường vách thì tâm hành xứ diệt, nói chẳng đến
thì ngôn ngữ đạo đoạn, rõ ràng thường biết mà không vọng
niệm thì tịch chiếu đồng thời, tâm cảnh không hai, mê
ngộ không hai, chúng sanh và Phật chẳng khác. Khi ấy tâm
cũng chẳng thể được, diệu cũng chẳng thể được, chẳng thể
được cũng chẳng thể chẳng được. Chẳng phải tâm chẳng
phải chẳng là tâm, chẳng phải diệu chẳng phải chẳng là
diệu, đi đứng ngồi nằm, không gì chẳng phải là diệu tâm
thể hiện. Đây chính là cảnh giới đi cũng thiền, ngồi
cũng thiền, nói nín động tĩnh thể an nhiên.
Đại Thừa Tán
của Bảo Chí Công ghi: “Chẳng hiểu “tức tâm tức Phật”
(tâm chính là Phật), giống như cưỡi lừa tìm lừa”.
Tâm Vương
Minh của Phó Đại Sĩ ghi: “Hiểu được gốc biết được tâm,
biết được tâm là thấy Phật, tâm ấy là Phật, Phật ấy là
tâm, niệm là niệm cái tâm Phật, đem tâm Phật niệm Phật…
tự quán xét tâm mình, biết có Phật ở trong, chẳng hướng
bên ngoài tìm, tâm chính là Phật, Phật chính là tâm”.
Chư Phật và
Tổ tán thán câu “tức tâm tức Phật” rất nhiều, chẳng
phiền dẫn chứng rộng. Như Mã Tổ từng đáp lời hỏi của
Tăng rằng: Phi tâm phi Phật, nhân đây dẫn đến sự tranh
luận của các Thiền giả đời sau, cho phi tâm phi Phật là
chỗ bàn luận cùng tột, từ đó dẫn đến sự phá chấp của
Tông Cảnh Lục.
Chương Mã Tổ
trong Truyền Đăng Lục ghi: Tăng hỏi: Hòa thượng vì sao
nói tức tâm tức Phật? Sư đáp: "Dỗ con nít khóc." Tăng
hỏi: "Khi hết khóc thì thế nào?" Sư đáp: "Phi tâm phi
Phật."
Tông Cảnh
Lục ghi:
Hỏi
: Như trên đã nói, tức tâm tức Phật là yếu chỉ
Phật, Tổ Tây thiên cõi này đồng nói, lý sự rõ ràng đồng
thấy như nhau. Vì sao lại nói phi tâm phi Phật?
Đáp:
Tức tâm tức Phật là biểu thuyên (biểu thị đầy đủ đức
tánh), là bày tỏ thẳng sự việc ấy khiến thân chứng tự
tâm, kiến tánh rõ ràng. Nếu phi tâm phi Phật là giá
thuyên ( ngăn chặn lỗi lầm), là ngăn chặn lỗi lầm sai
trái, bỏ nghi phá chấp… Thời gần đây có sự lạm dụng pháp
môn tham thiền, khi chẳng được yếu chỉ, chẳng được
truyền thừa liền chẳng tin tức tâm tức Phật phê phán cho
là giáo thừa nói ra chưa phải nhiệm mầu sâu xa, ta tự có
việc hướng thượng của tông môn, chỉ trọng thuyết phi tâm
phi Phật. Vì thế mà lầm lẫn cả phải trái, mong ngộ mà
gặp mê, chấp bóng cho là chân thật, lấy bệnh làm pháp.
Có thể thấy
người chấp phi tâm phi Phật, tất nhiên rơi vào đường tà,
chẳng những không khai ngộ được chánh giác, mà còn bị
trầm luân mãi trong ba cõi. Môn hạ Thiền tông, chư Tổ có
rất nhiều câu nói điều là đối trị sự vọng chấp ngu mê
của học nhân, vì gỡ niêm mở trói mà lập bày, nói ra để
nhổ đinh tháo nêm mà kẻ mê chấp đó là phải, há chẳng
phải rất lầm to! Vẫn có các vị Tổ sư khác đối với việc
này cũng có sự quở trách, thế thì chẳng cần dẫn chứng
thêm.
Tức tâm tức
Phật (tâm chính là Phật), là phương tiện vào cửa tham
thiền rất tốt, dùng phương pháp gì để tham cứu, mới có
thể chơn chánh chứng được tức tâm tức Phật? Cổ đức nói:
“Tức tâm tức Phật chỉ tu chứng mới biết”, không phải để
nói suông ngoài miệng mà biết rõ được thật sự, trên thực
tế thành Phật là dùng trí căn bản vô phân biệt thân
chứng thật tướng. Tướng của tướng là vô tướng. Thân
chứng vô tướng thì trong khoảng sát na trí cảnh thầm
hợp, năng sở đều quên, hư không nát vụn, mặt đất lún
xuống, cảnh giới như thế hoàn toàn chẳng phải là có tâm
phân biệt năng thông năng chứng. Nhân đây tôi cho rằng
điều Cổ Đức nói: Vô tâm là đạo, là pháp môn phương tiện
đúng đắn. Như Thiền sư Hoàng Bá lúc đáp lời tăng hỏi
cũng bằng câu: “ Tức tâm tức Phật, vô tâm là đạo”. Ngài
Đạt Ma lúc truyền tâm cho nhị Tổ Huệ Khả: “ Ngoài dứt
các duyên, trong tâm không dấy khởi, tâm như tường vách
mới có thể vào đạo”. Đây chính là vô tâm triệt để. Điều
vô tâm ấy, không phải là không chơn tâm, mà không có tất
cả tạp niệm vọng tưởng, chỉ có tâm sáng suốt rõ ràng.
Lục Tổ nói: “ Pháp môn này của ta, từ trước đến nay,
trước lập vô niệm làm tông, vô tướng làm thể, vô trụ làm
gốc”. Vô niệm là không tất cả niệm, tất cả chỗ vô tâm,
đối với tất cả cảnh giới không động không khởi, lúc vô
niệm tức là chơn tâm, tất cả chỗ vô tâm, thì sáu căn
không nhiễm, tự nhiên được vào cái thấy đồng chư Phật,
tức gọi là vô niệm. Nhập Phật tri kiến lại từ đâu dựng
lập? Từ vô niệm lập. Như kinh Duy Ma ghi: “ Từ gốc vô
trụ mà lập tất cả pháp”. Có chỗ nói: “ Vô tướng làm
thể”, thật tướng các pháp là tất cả pháp vô tướng, ngay
vô tướng không phân biệt là Phật là chúng sanh, nếu khởi
phân biệt liền có kiến tướng và thủ tướng, (kiến tướng
là một trong ba tế tướng được nói đến trong Khởi Tín
Luận, cũng gọi là chuyển tướng, do nghiệp tướng thứ nhất
chuyển hóa mà thành các có thể nhìn thấy được, cũng
tương đương như kiến phần thuộc về A lại da thức. Thủ
tướng là cái vọng hoặc thủ chấp vào cái tướng sự lý) nên
chẳng thấy tướng pháp giới bình đẳng. Chơn như Phật tánh
vốn là vô tướng. Có chỗ nói: “ Vô trụ làm gốc” , vô trụ
tức là tên khác của thật tướng, thật tướng là tên khác
của tánh không. Trong Kinh Duy Ma ngài Văn Thù Sư Lợi
hỏi cái gì là gốc vọng tưởng điên đảo? Đại sĩ Duy Ma đáp
rằng: “ Vô trụ làm gốc”. Cho nên Lục Tổ nói:
“Vô tướng là
đối với tướng mà lìa tướng. Vô niệm đối với niệm mà lìa
niệm. Vô trụ là bản tánh của người… trong mỗi niệm chẳng
nhớ cảnh trước. Nếu niệm trước niệm hiện tại niệm sau,
niệm niệm tiếp nối chẳng dứt, gọi là trói buộc. Đối với
các pháp niệm niệm chẳng trụ tức là không trói buộc. Đây
là lấy vô trụ làm gốc”. Lục Tổ lúc mới chỉ dạy Huệ Minh,
chính là dùng phương tiện vô tâm là đạo. Ngài dạy Huệ
Minh dứt bỏ các duyên, chớ khởi một niệm: “ Không nghĩ
thiện, không nghĩ ác, chính khi ấy, cái gì là bản lai
diện mục của Thượng tọa Minh? Huệ Minh ngay lời nói ấy
khai ngộ. Chứng tỏ vô tâm là đạo là phương tiện tốt nhất
khiến cho học nhân đại triệt đại ngộ. Chính Lục Tổ cũng
từ chỗ thể nhận vô tâm là đạo mà ngộ nhập . Ngũ Tổ giảng
kinh Kim Cang cho ông ta đến đoạn “ Ưng vô sở trụ nhi
sanh kỳ tâm” ông ta ngay lời ấy khế ngộ. Tâm chúng sanh
vốn là vô trụ, do tiếp xúc với cảnh mà sanh tâm kia.
Chẳng biết tánh cảnh là không, chấp pháp thế gian là
thật, bèn ở trên cảnh sanh tâm trụ tâm, giống như khỉ
vượn mò trăng đáy nước, mắt bệnh xem hoa tự sanh điên
đảo. Tất cả muôn pháp đều từ tâm sanh, nếu ngộ chơn tánh
liền vô sở trụ. Vô sở trụ tức là trí huệ không có các
phiền não, giống như hư không, không có ngăn ngại. Tâm
có sở trụ tức là vọng niệm, sáu trần đua nhau mà khởi,
giống như mây nổi đến đi không cố định. Truyền tâm pháp
yếu ghi: “ Chỉ khi ông lìa các pháp có không, tâm như
vầng mặt trời thường ở giữa hư không, ánh sáng tự nhiên
không chiếu mà chiếu, chẳng phải là việc của sức phản
tỉnh. Khi đến đây thì không chỗ nương tựa, tức là làm
hạnh của chư Phật, chính là “ nên không có chỗ trụ mà
sanh tâm kia” , đây là pháp thân thanh tịnh của ông ,
gọi là A nậu Bồ đề. Từ lúc Đạt Ma truyền Phật tâm ấn “
giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự, trực chỉ chơn
tâm, kiến tánh thành Phật” đến nay, muốn vào cửa tham
thiền có thể nói đều là dùng phương tiện “ vô tâm là
đạo”.
Nhưng chương
thứ 9 trong Thập Huyền Đàm của Tổ Đồng An Sát lại ghi:
“Chớ bảo vô tâm là đạo, vô tâm còn cách một lớp rào”.
Trên thực tế đây là gỡ niêm mở trói cho học nhân, cũng
là thủ thuật nhổ đinh tháo nêm, sợ học nhân trong lúc
dụng công mê chấp pháp chết nên Tổ mới phủ nhận, khiến
họ trên đầu sào trăm trượng tiến thêm bước nữa. Lúc tham
thiền vị tông sư chân chánh quyết không có pháp thật để
cho người, mà tùy thời giúp học nhân xoay chuyển chỗ mê
lại, khiến họ chốn chốn vô ngại , sự sự viên thông.
Tướng chân thật của thiền vốn là không vật, nói in tuồng
một vật tức chẳng trúng”, nói một chữ Phật đã là rườm
rà, nói một chữ thiền đầy mặt hổ thẹn. “ Từ điểm xuất
phát này tất cả ngôn ngữ, tất cả tâm hành đều là dư
thừa, há có thể dừng lại ở chỗ vô tâm là đạo, nên biết
vô tâm vẫn là một loại chấp trước. Vì đã phủ nhận vô tâm
là đạo khiến cho học nhân trong lúc tham học mau chóng
xông vào thấy tánh thành Phật, cho nên nói: “ Vô tâm còn
cách một lớp rào”.
Rõ ràng Tổ
Sư phủ định ý muốn thể hiện vô tâm là đạo, hãy nên vịn
vào cây gậy này mà đi, nỗ lực dụng công, dốc sức tham
cứu. Thiền sư Hoàng Bá nói : “ Chẳng ngộ tâm thể này
liền ở trên tâm sanh tâm, hướng ra ngoài cầu, chấp tướng
tu hành đều là ác pháp, chẳng phải đạo Bồ đề. Hướng ra
ngoài cầu Phật, chấp tướng tu hành thế là vĩnh viễn cầu
chẳng được Phật, tu chẳng thành tựu hạnh chơn chánh
thanh tịnh. Tu hạnh chơn chánh là đối cảnh tâm không
sanh, chủ yếu là quên tâm, nếu chẳng quên tâm, đối cảnh
liền chấp tướng, thì nhất chân pháp giới vô tướng làm
sao có thể hiện tiền được? Cho nên muốn quên cảnh tốt
nhất là quên tâm. Nhưng người dụng công thường thường
chẳng dám quên tâm, sợ quên tâm rơi vào không, không
biết đâu mà mò. Không biết không vốn không phải là
không, lúc vô niệm chính là tâm sáng suốt lặng lẽ, giữ
gìn tâm sáng suốt lặng lẽ đó tức là người tu thiền tốt
nhất. Đây là phương pháp yêu cầu học nhân, đối với tâm
đã sanh khởi chẳng để nó tiếp tục sanh, đối với tâm chưa
sanh chẳng để nói sanh khởi, chẳng tiếp niệm trước không
theo niệm sau, thì bên trong tự lặng lẽ. Hoàng Bá nói: “
Chỉ tự quên tâm thì đồng với pháp giới, chỉ được tự tại
đây mới là chính yếu”. Tất cả thiện ác đều không suy
nghĩ, việc quá khứ đã qua cũng không suy nghĩ thì tâm
quá khứ tự dứt, việc vị lai chưa đến không mong cầu thì
tâm vị lai tự dứt, việc hiện tại niệm niệm không dừng
chẳng cần nắm bắt. Đối với tất cả việc chỉ biết không
dính mắc. Không dính mắc là không khởi tâm yêu ghét thì
tâm hiện tại tự dứt. Đối với việc trong ba đời chẳng
sanh tâm, thì tâm quên cảnh tự không.
Thiền sư Nam
Nhạc Hoài Nhượng lễ bái Lục Tổ, Lục Tổ hỏi: "Vật gì đến
thế?" Hoài Nhượng đáp: "Nói in tuồng một vật tức chẳng
trúng." Hỏi : "Lại có tu chứng chăng?" Đáp : "Tu chứng
tức chẳng không, nhiễm ô tức chẳng được." Tổ nói: "Chỉ
không nhiễm ô này là điều chư Phật hộ niệm. Ong đã như
thế, ta cũng như thế." Mã Tổ dạy chúng cũng nói: “ Đạo
chẳng cần dụng tu, chỉ không nhiễm ô là được. Vì sao
nhiễm ô ? Do có tâm sanh tử, có chiều hướng tạo tác đều
là nhiễm ô. Nếu muốn thể hội đạo này, thì tâm bình
thường là đạo. Thế nào là tâm bình thường? Không tạo
tác, không phải trái, không thủ không xả, không đoạn
không thường, không Phàm không Thánh. Bản tâm rỗng lặng
sáng suốt không vật gì có thể so sánh, cho nên nói in
tuồng một vật tức chẳng trúng. Bản tâm rỗng lặng sáng
suốt không thể nhiễm ô, nếu tạp niệm dấy khởi liền trừ
bỏ, nếu không trừ bỏ thì nhiễm ô vậy. Cho nên người tham
thiền chẳng cần dụng tâm tu hành khác, chỉ đối với tâm
lặng lẽ sáng suốt rõ ràng ra công giữ gìn bảo nhậm,
khiến chẳng nhiễm ô là được.
Thiền tông
thường dùng chăn trâu làm thí dụ, để hiển bày phương
pháp vô tâm là đạo. Như Mã Tổ hỏi Thiền sư Huệ Tạng:
"Làm gì?" Huệ Tạng đáp: "Chăn trâu." Mã Tổ hỏi ông ấy:
"Chăn ra sao?" Đáp rằng: "Mỗi lần vào lúa mạ liền nắm
dây dàm kéo mũi lại." Mã Tổ nói: "Ông đúng thật chăn
trâu."
Tham thiền
cần giữ gìn vô tâm, cần phải luôn luôn phản tỉnh nội tâm.
Chú ý tạp niệm trước mắt, như lúc chăn trâu chẳng để nó
phạm vào lúa mạ của người, làm thế nào mỗi lần vào lúa
mạ, lập tức nắm dây dàm kéo mũi nó lại. Tức là niệm khởi
liền giác, giác đó liền không. Làm thế nào đối cảnh tâm
không khởi, cũng không loạn động, xuyên qua tất cả sắc
thanh, không có chướng ngại, gọi là đại nhân, giống như
vật để vào lửa liền cháy. Cổ nhân nói chặt thẳng chỗ
trọng yếu, một đao đứt lìa, ngay đó liền thôi.
Vô tâm tức
là chiếu soi lại bên trong, một niệm tiếp xúc với cảnh
sanh tâm liền là sanh tử, lìa cảnh không sanh diệt là
giải thoát. Một niệm vô tâm phàm phu bằng Phật, phiền
não tức Bồ đề. Lục Tổ nói: “ Niệm trước mê tức phàm phu,
niệm sau ngộ tức Phật; niệm trước chấp cảnh tức phiền
não, niệm sau lìa cảnh là Bồ đề”. Đó là tối tôn tối
thượng tối đệ nhất, không trụ không đi cũng không đến,
ba đời chư Phật từ đó mà lưu xuất. Cho nên dùng đại trí
huệ phá tan phiền não trần lao năm uẩn. Tu hành như thế
nhất định sẽ thành Phật đạo. Ngộ pháp này tức là không
nghĩ không nhớ không chấp trước, cũng không khởi cuồng
vọng, ứng dụng đều từ tánh chơn như dùng trí huệ quán
chiếu. Đối với tất cả pháp không thủ không xả tức là
kiến tánh thành Phật. Tham thiền quý ở thực hành, tức là
chơn tham thật ngộ, có nhiều tri giải lại càng bế tắc.
Chỉ sạch hết phàm tình thánh giải, hoàn toàn không chỗ
nương chấp, tâm như hư không, lìa các pháp có không đến
đây không còn chỗ nương tựa, tức là đi con đường chư
Phật, vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm. Cổ nhân nói:
“Sao bằng
vào cửa vô vi thật tướng, một phen nhảy thẳng vào đất
Như Lai”. Nếu không thể hội điều này, thì dù hiểu biết
nhiều hay khổ nhọc, mặc áo cỏ ăn lá cây, mà không biết
tự tâm thì đều là tà hạnh. Nay chỉ học vô tâm, thật tu
thật ngộ, chết đi tâm viên diệt trừ ý mã, một niệm không
sanh, tâm điên đảo dứt, vọng dừng tâm không, biết cái
chơn thật tự hiện, thì cây khô nở hoa việc lớn thành tựu.
Như kinh Tịnh Danh ghi: “ Ngay đó rỗng lặng lại được bản
tâm”, mới biết không phải từ ngoài mà được, cả đời thư
thái.
Nhận thức về
tâm, tâm có hai loại: Một loại là chơn tâm, lấy linh tri
tịch chiếu làm tâm, bất không vô trụ làm thể, thật tướng
làm tướng. Một loại là vọng tâm, lấy sáu trần duyên theo
bóng làm tâm, vô trụ làm thể, phan duyên theo sự suy
nghĩ làm tướng. Dụng công tham thiền cần giữ gìn sự sáng
suốt lặng lẽ rõ ràng, không tiếp nối niệm trước, không
khởi theo niệm sau, thúc đẩy sự sáng suốt lặng lẽ bên
trong, đó là cần phải luôn luôn đối trị vọng tâm, khiến
cho chơn tâm được hiển hiện. Chơn tâm lấy thật tướng làm
tướng, cần phải là tâm vô niệm vô tướng, mới có thể thầm
hợp thân chứng. Rõ ràng ở đây “ tức tâm tức Phật, vô tâm
là đạo” là cửa phương tiện tham thiền ban đầu. Lại có gì
để hoài nghi ư ? Phật nói : “ Sa môn xuất gia dứt bỏ ái
dục, tự biết nguồn tâm, thấu suốt lý thâm sâu của Phật,
ngộ pháp vô vi, trong không có gì chứng đắc, ngoài không
có gì để cầu, tâm không vướng bận nơi đạo, cũng không
còn nghiệp trói buộc, không còn suy nghĩ không còn tạo
tác, không tu không chứng, không trải qua thứ bậc mà tự
cao tột, gọi đó là đạo”. Khởi Tín Luận ghi: “ Nếu lìa
tâm niệm thì không có tất cả tướng cảnh giới. Thế nên,
tất cả pháp từ xưa đến nay lìa tướng ngôn thuyết, lìa
tướng danh tự, lìa tướng tâm duyên (khởi tâm bám víu vào
ngoại cảnh), hoàn toàn bình đẳng, không có thay đổi”.
Một khi đạt đến cảnh giới tuyệt đối này, thì khắp chốn
vô ngại, sự sự thông suốt, đại dụng hiện tiền, hoàn toàn
sáng suốt. Đây chính là cảnh giới tự tại vô ngại vượt
ngoài khuôn phép.
Cuối cùng,
mượn lời tụng của Thiền sư Vĩnh Gia để trợ giúp cho
người tham thiền luôn luôn kiểm nghiệm chỗ dụng tâm của
mình có đúng đắn hay không, kệ rằng:
Tỉnh
tỉnh lặng lặng phải,
Vô ký lặng lặng sai;
Lặng lặng tỉnh tỉnh phải,
Loạn tưởng tỉnh tỉnh sai.
Thiền sư
Hoàng Long Tử Tâm nói: “ Thân này chẳng nhằm đời này độ,
lại đến đời nào độ thân này." Thiền sư Hoàng Bá Đoạn Tế
nói:
Vượt
thoát trần lao việc phi thường,
Đầu dây nắm chặt giữ lập trường,
Nếu chẳng một phen sương lạnh buốt,
Hoa mai đâu dễ ngửi mùi hương.
Thiền quý
trọng ở chơn tham thực ngộ. Chuyện tán gẫu lòng vòng
trên đây, cũng chỉ là lấy pháp chết cho người, tự cảm
thấy rất hổ thẹn, đáng bị ăn ba mươi gậy!
TV Thường Chiếu (Theo Giác Ngộ)