image

 

Tản mạn về Ông Bụt và văn hóa, đời sống người Việt

 Thích Thanh Chýnh

 

Tuy Đức Phật không ra đời ở Việt Nam nhưng người dân Việt luôn coi hình tượng Đức Phật là người Việt, của dân Việt. Chữ Phật theo phiên âm tiếng Phạn gọi là Bouddha, và người Việt nghe trại âm gọi là Bụt đà, hay còn gọi cái tên thật gần gũi thật quý kính là ông Bụt.

Đạo Phật ra đời tại một quốc độ có đầy đủ các thành phần tôn giáo, các thành phần giai cấp đó là đất nước Ấn Độ. Sự ra đời đó đánh dấu một bước ngoặt lich sử cho sự công bằng của chúng sinh trong ba cõi nói chung và loài người nói riêng.

Đức Phật là một nhân vật lịch sử, có thật, là một minh chứng cho sự giác ngộ, cho sự giải thoát, sự tự giác để xoá bỏ các giai cấp gò ép con người phải sống trong lễ giáo phong kiến và các hủ tục lạc hậu. Ngài đem văn minh, ánh sáng của niềm tin, của trí tuệ soi rọi mọi nẻo đường để chúng sinh vượt qua.

Với những phương tiện pháp môn như nhân quả, nghiệp báo, luân hồi..v.v giúp chúng sinh hiểu rõ đời sống thực tại và để hướng tới tương lai một cách tốt đẹp, Ngài đã thực sự đánh thức ý thức hệ của con người khiến họ biết vươn lên đến với chân, thiện, mỹ gạt bỏ mọi hận thù, xả ly các chướng ngại đạt đến quả vị an lành giải thoát.

Từ khi Phật giáo du nhập vào Việt Nam, nó đã được đón nhận một cách hết sức trân trọng và vì giáo lý đạo Phật cũng rất thực tế, rất dễ thâm nhập vào lòng người, khiến con người được quay về với Phật tính của chính mình.

Cho nên, tuy Đức Phật không ra đời ở Việt Nam nhưng người dân Việt luôn coi hình tượng Đức Phật là người Việt, của dân Việt. Chữ Phật theo phiên âm tiếng Phạn gọi là Bouddha, và người Việt nghe trại âm gọi là Bụt đà, hay còn gọi cái tên thật gần gũi thật quý kính là ông Bụt.

Trong văn hoá bản địa của người Việt chúng ta là một nước nông nghiệp. Do đó, chúng ta chỉ thờ những vị thần như Thần mây, Thần mưa, Thần sấm, Thần chớp mong sao cho mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu, mọi người được no ấm. Song những điều đó lại luôn bị chi phối bởi các chế độ, các giai cấp khiến con người ta không biết nương tựa vào đấng tối cao nào để được giúp đỡ và che trở.

Khi được ông Bụt bước tới quốc độ chúng ta, người dân đã đón nhận một cách nồng nhiệt, coi Ngài như một vị cứu tinh, là một đấng đầy quyền uy có khả năng ban phúc giáng họa, trừ tai giải ách, khi cần là ông xuất hiện giúp đỡ, khi gặp khó khăn là ông có thể chia sẻ, khi đói khát là ông có thể bố thí..v.v

Do vậy, từ văn hoá bản địa kết hợp với hình tượng của ông Bụt đã làm nên một nền Phật giáo Việt Nam rất riêng. Từ đây người ta đã đưa ông Bụt vào trong tiềm thức, vào trong tất cả những gì tốt đẹp nhất của họ. Người ta xây dựng những ngôi chùa để cúng ông Bụt, tạo ra một nét văn hoá vật thể kiến trúc chùa chiền được hoà quyện bởi văn hoá phương đông và phương tây mà không đâu có được.

Nó được thể hiện bởi những mái ngói, những khúc đao cong cong vươn lên trời cao, thể hiện sự uyển chuyển mềm mại những cũng rất kiên cường, có ý chí vươn lên của người Việt, có những hình tượng tứ linh long, ly, quy, phượng thể hiện sự hoà hợp biết sẻ chia đùm bọc lẫn nhau trong cộng đồng dân cư Việt, có những hình tượng tứ quý tùng, trúc, cúc, mai thể hiện cho sự giàu sang phúc lộc bốn mùa sống yên vui hưởng thọ dài lâu, hoặc có những hình tượng tứ quý nữa như sen, cúc, hồng, đào thể hiện cho sự trù phú mầu mỡ của đất đai Việt Nam..v.v.

Tất cả những nét văn hoá vật thể đó mà ngày nay chúng ta được kế thừa đã nói nên sự sáng tạo và đức tin vào ông Bụt của cha ông ta thật không thể nghĩ bàn.

Hình tượng ông Bụt và giáo lý của Ngài cũng được người Việt xưa đưa vào trong văn hoá ứng xử, văn hoá giao tiếp, văn hoá ẩm thực..v.v. Giữa người với người, vua với bề tôi, cha với con, thầy với trò, vợ với chồng, anh với em..v.v dựa trên giáo lý Tam quy, Ngũ giới, Tri ân và báo ân..v.v.

Với vua tôi thì hết mực chung thành không hà hiếp nhân dân “Đại hùng đại lực”, vua phải ra vua tôi phải ra tôi và điều này được vua tôi thời Lý, Trần phát huy hết sức xuất sắc và thành công.

Với cha con thì phải kính trọng hiếu thuận “đời nay hiếu với mẹ cha, về sau con cháu với ta khác gì, nếu ta ăn ở vô nghì, đừng mong con cháu làm gì hoài công” hay “lên chùa thấy Phật muốn tu, về nhà thấy mẹ công phu chưa đành”, “Đại trung đại hiếu”.

Với vợ chồng thì phải chung thuỷ “không tà dâm, không uống rượu”, “phu phụ tương tuỳ” phải hết mực thương yêu chia sẻ nhau mọi đắng cay ngọt bùi, sự thương yêu đó được thể hiện như “trên đầu những rác cùng rơm, chồng yêu chồng bảo hoa thơm trên đầu” hay “đi chợ thì hay ăn quà, chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm”, “Đại hỷ đại xả”.

Với anh em thì phải hoà thuận “huynh đệ tương thân”, không ngỗ nghịch “anh em như thể tay chân, đói no, vui khổ cũng gần bên nhau”, “Đại bi đại nguyện”. Với cộng đồng không nói dối, không nói chia rẽ, không nói độc ác, không nói hai lời phải khuyên nhau không xa ngã vào các tệ nạn xã hội như cờ bạc, hút chích, rượu chè, trai gái, trộm cắp..v.v phải có tấm lòng vị tha, luôn nương tựa vào nhau để cùng nhau phát triển “bán anh em xa mua láng giềng gần”, hay “tối lửa tắt đèn có nhau” hay “bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”..v.v

Do đó giáo lý của ông Bụt là những phép mầu, là những vị thuốc hay để cứu vớt chúng sinh chịu nhiều đau khổ, nó đã ăn sâu vào mọi tư tưởng các thành phần đoàn thể trong xã hội xưa kia. Từ uy đức và tướng tốt cũng như những pháp môn của ông giúp họ thoát qua cơn mê, tìm lại được chính mình, người ta dùng luôn những sản vật nông nghiệp có được để đưa vào văn hoá ẩm thực, họ tạo ra những phẩm oản nếp được in trên lá mít, những đĩa sôi được tạo nhiều kiểu giáng sắc mầu, những nải chuối, những bông hoa..v.v để cúng dàng ông và đây cũng là một nét văn hoá vật thể của người Việt rất riêng mà không đâu có được.

Cũng từ những pháp môn mầu nhiệm của ông Bụt làm cho những người cùng khổ trong chế độ xã hội phong kiến xưa kia vơi bớt nỗi khổ niềm đau. Từ những bất công của xã hội, từ những cuộc vật lộn với thiên nhiên họ đã rất sáng tạo, lại đưa ông vào một nét văn hoá vô cùng độc đáo nữa đó là văn hoá phi vật thể.

Với những hình tượng một ông cụ râu tóc bạc phơ như cước, tay cầm phất trượng, ông Bụt xuất hiện trong tất cả những câu chuyện cổ tích, những áng thơ văn, những nàn điệu dân ca..v.v. Họ cho ông là một đấng siêu phàm có thể suy tà hiểu chính, giúp đỡ những người lương thiện, loại trừ những kẻ độc ác gian manh như những chuyện “Chử Đồng Tử và Tiên Dung”, như chuyện “Tấm cám”, như chuyện “Cây tre trăm đốt”..v.v

Ông Bụt xuất hiện trong những câu chuyện cổ tích này với một tấm lòng rất nhân từ, rất công bằng, rất trí tuệ, rất hiền hậu và rất gần gũi thân mật. Trong văn hoá dân ca có những nàn điệu ca ngợi ông cũng như những cảnh sắc nơi ông được thờ cúng thật thiêng liêng như bài “Vào chùa” của quan họ Bắc Ninh, như bài “Tát nước đầu đình”, như bài “Đi cấy”,..v.v.

Có những câu chuyện đã được chuyển thể thành các vở kịch, các bộ phim để tôn vinh ông và đưa những giáo lý của ông đến với quần chúng nhân dân một cách dễ hiểu nhất, khiến họ sống tốt hơn đối sử với nhau thân thiện hơn như vở “Thằng ngố đi đòi nợ Phật” như vở “Quan Âm thị kính” như vở “Thị mầu lên chùa”..v.v.

Ngày nay, ngoài những mặt tích cực của tiền nhân xây dựng hình tượng ông Bụt mang đầy giá trị văn hoá Việt xưa. Một số tín đồ hiện đại còn tôn ông thêm lên một bậc cao hơn nữa, không chỉ đơn thuần là một ông Bụt nhân từ, trí tuệ, đức độ bao dung có những pháp môn vi diệu đưa chúng sinh xa lìa ngũ dục, xa lìa bể khổ.

Họ còn coi ông là một ông Bụt thông hiểu kinh tế thị trường, là một ông Thần tài, ông Thần danh vọng địa vị, cho ông thêm một cái quyền là biết ban phát tài lộc, ban phát giàu sang...

Tuy nhiên, họ không hiểu danh từ cũng như vị chí và khả năng đích thực của ông Bụt như thế nào, khiến ông Bụt ở trên toà sen cũng không được thảnh thơi, không được giải thoát bởi những ham muốn đơn thuần nhưng xấu ác của chúng sinh, làm cho ông Bụt bị mất hết giá trị cao quý Bậc thầy cõi trời cõi người của ông đi.

Tội “mạn Phật” này quả là to lớn không dùng thứ nước nào để gột rửa cho sạch được.

Từ những điều nói trên chúng ta có thể kết luận rằng ông Bụt luôn là một điểm tựa vững chắc cho nhân loại nói chung và đặc biệt cho người dân Việt nói riêng. Ông đã gắn liền với văn hoá của người Việt từ những buổi đầu du nhập. Ông đưa ánh sáng của lòng từ bi, của sự giải thoát đến với chúng ta.

Cho dù ông Bụt đã đi xa, cách chúng ta đến nay đã hơn hai ngàn năm, nhưng hình tượng của ông luôn luôn tồn tại trong tâm khảm của mỗi người dân Việt. Họ thể hiện sự kính tín với ông bằng rất nhiều hình thức khác nhau: Hoặc làm theo những điều ông dạy, hoặc xây dựng những nơi tôn nghiêm để thờ cúng ông, hoặc tô vẽ hình tượng ông trên mọi chất liệu có thể và tốt đẹp nhất, hoặc khuyến khích mọi người đến với giáo lý của ông..v.v.

Mong rằng hình tượng tốt đẹp của ông Bụt trong văn hoá Vịêt sẽ không bị mai một và chuyển thành ông Bụt hiện đại trong nền văn hoá của thế kỷ XXI.

Source: phattuvietnam.net

 

Bài Tháng Năm . 2009


Biên tập: Cư sĩ Liên Hoa (Nhật Minh)
Sửa văn bản tiếng Việt và trình bày : Diệu Tịnh | Sửa văn bản tiếng Anh: Diệu Ngọc
Phụ trách mạng : Chánh Niệm | Email: Padma9mt@hotmail.com


You are visitor number since January 24, 2005