Thông điệp của Vô thường

Chân Huyền

 

Buổi sớm ngày đầu năm 2009, khoảng 6 giờ sáng, ông bạn nhà báo Việt Nguyên đánh thức chúng tôi để báo hung tin: Trương Trọng Trác (TR3), chủ nhiệm kiêm chủ bút bán nguyệt san Ngày Nay tại Houston đã ra đi vĩnh viễn. Anh Trác là một huynh đệ trong Hướng Ðạo, một đồng nghiệp “mê làm báo” với cường độ rất cao. Sau TR3 chỉ ba ngày, tới cái chết của một thân hữu trong nhóm bạn đạo: cô em Tâm Sáng Trăng (Minh Thanh) lìa bỏ cuộc sống bệnh tật nhiều năm để trở về với ông bà (4 tháng 1,2009). Rồi bốn ngày sau nữa (8 tháng 01) tới lượt huynh trưởng gia đình Phật Tử miền Vĩnh Nghiêm (anh Khuê), khi ngủ đã tự “thay áo mới”, sáng dậy con mới hay!

Chủ Nhật 22 tháng 3, 2009; tâm thức của bao nhiêu bạn bè trong nhóm anh em Chương Trình Hè 1965 đều xao động mạnh mẽ vì sự ra đi đột ngột của Minh Thông, người vợ dễ thương của nhạc sĩ du ca Nguyễn Ðức Quang. Sau khi nghe Thượng tọa Phước Tịnh giảng pháp tại chùa Phật Tổ (Long Beach, California), chị Minh Thông còn ngồi ăn trưa vui vẻ cùng bạn bè và cháu ngoại. Sau một cơn nhức đầu, chị được đưa ngay vào bệnh viện St Mary và mấy giờ sau, bác sĩ cho biết bộ não chị đã ngừng hoạt động! Không ai có thể tả nổi sự đau đớn của anh Quang cùng con cháu, và các anh chị em của Minh Thông. Vô thường gõ cửa gia đình nhạc sĩ quá đột ngột và phũ phàng. Ngày hôm trước, anh chị Quang cùng cháu Tuấn và mẹ cháu đã rong chơi ở San Diego, mừng anh Quang mới nghỉ hưu. Chị cũng tính sẽ nghỉ để cùng chồng đi du lịch mấy tháng, trong năm 2009 này!

Vì chị Minh Thông đã ghi trong bằng lái xe ý nguyện tặng các bộ phận cơ thể cho những ai cần, nên sau khi não ngưng hoạt động, chị được máy móc trợ giúp để cơ thể sống còn. Tin tức về các bộ phận chị Minh Thông có thể tặng được loan tải trong hệ thống y khoa ngay. Nhưng sau khi chờ gần ba ngày mà chưa có bệnh nhân đủ điều kiện để được ghép gan (hay thận) do chị tặng, gia đình Minh Thông đã yêu cầu các bác sĩ bỏ các máy móc trợ sinh để chị về với tổ tiên ông bà và chư Phật. Cáo phó của gia đình ghi bà Nguyễn Ðức Quang, nhũ danh Minh Thông, pháp danh Từ Tâm Ðạo mất ngày 24/3, thọ 65 tuổi.

Trong niềm thông cảm sâu xa về sự mất mát lớn lao và quá đột ngột của gia đình Nguyễn Ðức Quang, chúng tôi chỉ biết hàng ngày thiền tập và đọc kinh cầu nguyện chư Phật và Bồ Tát dẫn đường cho Minh Thông sớm siêu thăng. Bạn bè quen biết, ai cũng thương tiếc vô cùng người bạn đạo giản dị, mộc mạc đó. Chị ra đi khiến cho tất cả đại gia đình bị hụt hẫng. Không chỉ là vợ hiền, mẹ đảm, Minh Thông còn là người chị lớn đã thay mẹ mất sớm, để dưỡng dục bầy em. Trong thời gian cuối đời, Minh Thông đã sống đúng với tâm nguyện TU đạo của chị. Từ nhiều năm qua, chị rất ít xuất hiện trong những buổi hội họp của bạn bè anh em. Chúng tôi chỉ hay gặp chị trong những kỳ nghe giảng về Phật pháp, hay trong các sinh hoạt thiền tập của đạo tràng nào đó. Tuy thọ Ngũ giới với Hòa thượng Thanh Từ, Minh Thông thực tập thiền không phải chỉ với nhóm đệ tử thầy Thông Triệt hay với các ni Ngọc Chiếu (nay là tu viện Chân Giác), mà chị còn sinh hoạt với nhiều đạo tràng, nhiều tu sĩ khác. Chùa Phật Tổ Long Beach với pháp môn Niệm Phật Nhất Tâm Bất Loạn là nơi chị Minh Thông lui tới trong những năm tháng cuối đời chị.

Một cái chết toàn hảo

Cái chết của Minh Thông đã lay động rất mạnh tâm thức bạn bè cùng trang lứa với chị. Tuy vậy, các Phật tử coi nó một cái chết “toàn hảo”, ai hiểu lẽ vô thường cũng đều mong ước được chết như vậy. Hai anh Ngô Mạnh Thu và Khuê đều là các huynh trưởng lớn của Gia đình Phật tử, họ đã ra đi một cách rất an bình nhẹ nhõm, nhưng có thể nói Minh Thông đã vượt trội hơn tất cả bạn bè trong lần “Exit” cuối cùng này. Chị đã vượt qua được ba trong bốn cái khổ mà Phật giáo thường nói tới (sinh, lão, bệnh, tử): Chị không bị khổ vì lão, bệnh và khi chết, chị cũng chẳng khổ chút nào!

Sáng Chủ Nhật đó, trong chiếc áo tràng màu lam, bạn tôi đã cùng cháu ngoại và cậu Tuấn (cháu gọi bằng cô), hân hoan và an lạc ngồi ở chùa Phật Tổ nghe thượng tọa Phước Tịnh giảng một bài trong Kinh Pháp Cú. Mạch máu đầu của chị bị vỡ toang sau cơn nhức đầu khiến chị ra đi đột ngột. Ðó là một chuyến đi xa chưa đầy đủ hành trang, tuy chắc chắn chị đã từng quán về vô thường, và hiểu rõ cái chết chỉ là một sự chuyển hóa. Nhờ tâm từ bi muốn tặng gan, thận v.v... cho các bệnh nhân bị nan y, mà Minh Thông đã được bệnh viện giữ cơ thể chị sống tiếp trong gần ba ngày: tim chị vẫn đập, phổi vẫn thở, máu huyết vẫn luân lưu. Chị vô hình chung có được thì giờ để nghe kinh kệ, sửa soạn hành trang tâm linh thật đầy đủ, để thần thức thật sự bình yên, thanh tịnh trước khi về với chư Phật. Gia đình chị cũng có thời gian ba ngày để ứng phó với tình huống quá đau lòng. Anh Nguyễn Ðức Quang tâm sự: “Nếu không có thời gian chờ đợi này, tôi không hiểu làm sao chúng tôi có thể chấp nhận được sự ra đi đột ngột của Thông!”

Theo sách vở viết về cái chết do các thiền sư Phật giáo viết: khi chết đột ngột, tâm thức chúng ta có thể bị ngỡ ngàng hoặc lo lắng, vì không có thời gian chuẩn bị tinh thần. Khi sắp lìa đời, những gì chúng ta nghĩ, nói hay làm, những “cận tử nghiệp“cũng ảnh hưởng khá nhiều vào tâm thức vi tế. Ðó là thần thức, là chất liệu mà người chết sẽ mang qua đời sau cùng với tổng thể các nghiệp trong đời. Cận tử nghiệp tốt đẹp nhờ có ba ngày được nghe kinh kệ như trường hợp Minh Thông không mấy ai được hưởng, chứng tỏ chị đã được hưởng quả báu do rất nhiều “công đức,” rất nhiều Thiện duyên chị đã tạo được trong đời sống. Không phải chỉ có các bạn đạo nhất tâm cầu nguyện, trì chú cho chị, Minh Thông còn được quý tăng ni chùa Phật Tổ, tu viện Viên Giác và chùa Huệ Quang tụng niệm cho liên tục nhiều giờ mỗi ngày, khi chị còn trong tình trạng hấp hối. Chúng tôi thật sự đau buồn vì nay không còn gặp chị trong hình tướng quen thuộc ngày trước, nhưng chúng tôi cũng cảm thấy mừng cho người bạn đạo đã tu hành tinh tấn và được hưởng phước báu trong những giây phút cuối đời.

Chết là hết?

Ðại Học Havard ấn định bốn tiêu chuẩn để định nghĩa cái chết của con người:

1. Cơ thể không còn đáp ứng, cũng không nhận vô được bất kỳ một kích thích nào từ bên ngoài - kể cả các kích thích bằng máy móc tinh xảo để hồi sinh.

2. Người chết không còn hơi thở, toàn thân bất động.

3. Người chết không còn có bất kỳ phản xạ nào trên cơ thể

4. Ðiện đồ tim của người chết là một đường thẳng ngang

Một khi bốn tiêu chuẩn trên kéo dài 12 tiếng đồng hồ, thì các bác sĩ trong nghiên cứu của Ðại Học Havard định nghĩa người đó mới chết thật sự. Y giới nói chung ngày nay cho rằng bộ óc sẽ chết hẳn, không thể hồi phục để người đó sống bình thường trở lại nếu như sau 4 phút tim không đập lại được, không dẫn máu đủ dưỡng khí được lên óc để nuôi nó. Trừ trường hợp của những người bị chìm sâu trong nước hay đá lạnh, hoặc do ảnh hưởng của một dược phẩm, bộ óc cần rất ít dưỡng khí nên họ có thể được cứu sống và sinh hoạt bình thường sau đó, dù đã nhiều giờ ngừng thở.

Cái chết được y giới định nghĩa với các tiêu chuẩn khác nhau, tựu chung có thể nói chết là “sự vắng mặt của tất cả các dấu hiệu của sự sống,” nhất là sự sống của bộ óc. Nhưng vì các cơ quan, bộ phận trong cơ thể chúng ta chết không cùng một lúc, nên các triết gia và khoa học gia, các bác sĩ y khoa vẫn còn chưa đồng ý với nhau khi nào con người được coi là Chết thật sự? Khi trái tim ngừng đập, điện đồ tim chỉ còn là một đường thẳng im lìm nhưng hai quả thận (Kidney) vẫn còn sống tới 30 phút sau mới chịu ngưng lọc máu, và tròng mắt sống được tới 6 giờ. Râu tóc và nhất là móng tay móng chân là những thứ sống dai nhất, vài tuần lễ sau khi ta chết, chúng vẫn còn tiếp tục dài ra!

Nhưng theo Phật Giáo, còn có 4 giai đoạn tiếp theo nữa. Không có dấu hiệu gì ở bên ngoài mà đó chỉ là những cảm giác, ý tưởng nội tại, trong tâm thức người chết. Dù tầng thô của tâm thức đã ngưng hiện hữu, tầng vi tế của nó (linh quang) khi đó vẫn chưa thoát ra khỏi cơ thể con người. Khả năng trụ vào vùng sáng trong suốt đó tùy thuộc khả năng định tâm của các thiền giả tu tập đã lâu, nhưng cũng có khi do tình cờ, người ta vào được cảnh giới này. Thiền sư Ling Rinpoche, một cao tăng có định lực hùng mạnh, đã trú trong Linh Quang, ánh sáng trong suốt đó thật lâu. Trong 13 ngày sau khi viên tịch, ngài ở trong trạng thái đại định, cơ thể vẫn tươi đẹp chứ không bị hôi hám.”

Sogyal Rinpoche viết trong cuốn “Tạng thư sống chết” như sau về điểm Linh Quang:

“Khi thân xác ta chết, giác quan và các tâm thức thô phù cùng các cảm xúc tiêu cực như tham sân si đều chết. Cuối cùng không còn gì che mờ bản chất tuyệt đối và chân thật của ta, vì mọi thứ che phủ cái tâm giác ngộ đã rơi rụng. Và khi ấy, nền tảng tối sơ của bản tâm thanh tịnh được hiển lộ, như một bầu trời trong sáng không mây - đó là sự xuất hiện của ánh sáng căn bản hay điểm Linh quang. Ðó là cơ hội ngàn năm một thuở để giải thoát, nếu như trong đời sống hàng ngày chúng ta đã biết an trú trong đó khi thiền định. Ða số chúng ta không có khả năng và không sẵn sàng đón nhận tính cách bao la giản dị, vi tế mà nguyên sơ của điểm Linh Quang. Chúng ta vẫn phản ứng theo tập quán nhiều đời, quen chìm đắm trong vô minh và sợ hãi, dù cho những cảm thọ trong ta đã chết đi rồi.”

Cái chết trong quan điểm các tôn giáo:

Trong cuộc hội luận lần thứ tư giữa Ðạt Lai Lạ Ma với các nhà khoa học về Tâm, năm 1992 tại Dharamsala, triết gia nổi tiếng Charles Taylor đã nói về Cái Chết trong quan điểm Thiên chúa giáo. Ðể cho cử tọa có thể hiểu được các quan điểm này, Charles Taylor đã bắt đầu bằng cách nói về sự khác biệt và tương đồng của hai tôn giáo (Thiên Chúa và Phật giáo). Theo ông Taylor, hai tôn giáo có một điểm chung, đó là điểm con người bao giờ cũng muốn vượt thoát ra ngoài cái hiểu biết bình thường, cố hữu của họ về chính con người họ, nghĩa là họ muốn thay đổi để thấy được bản chất thật sự của mình. Ông nói:

“Về chuyện Chết, Thiên Chúa giáo không có những hiểu biết về thân, tâm người chết hay hiểu về tiến trình chết cũng như không có những phép hành trì để đi vào cõi Chết như bên Phật Giáo - những điều Ðạt Lai Lạt Ma thuyết trình trong hội nghị này khiến cho tôi rất ngạc nhiên. Trong tôn giáo chúng tôi, chết có nghĩa là về với Chúa. Có nhiều cách để diễn giải chuyện này, chẳng hạn như người ta tin rằng chết rồi sẽ được Chúa phán xét rồi lên Thiên Ðàng hay xuống Ðịa ngục tùy cách ăn ở của mình. Về với Chúa nghĩa là chúng ta đi sang một kích thước khác của thời gian và không gian - sang một thế giới vĩnh cửu - trong đó có Thượng Ðế và các thánh thần”.

Trong khi đó, Phật giáo coi cái chết chỉ là một sự thay đổi. Mọi sự do duyên mà thành và cũng do duyên mà hoại. Con người khi chết thì thân xác cùng tất cả các giác quan và thân thể (6 căn) bị hủy diệt, kể cả đức Phật Thích ca cũng không ngoại lệ. Ngay trong khi còn sống, các tế bào trong chúng ta cũng đã chết nhiều lần, bao lớp đã đổi thay, đã biến cải, như mọi thứ vô thường khác trong vũ trụ. Nhưng Chết không có nghĩa là từ Có thành Không, mà đó chỉ là một sự chuyển đổi hình tướng. Tùy vào các nghiệp lực người đó đã làm trong cuộc đời mà họ sẽ được tái sinh trong các cảnh giới tốt hơn hay xấu hơn. Có 6 cảnh giới hay được nhắc tới trong kinh điển Phật giáo: Trời, Atula, Người, Súc sanh, Ngã quỷ và Ðịa ngục.

Tiến trình chết theo Phật giáo Tây Tạng:

Theo Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, cái chết và tiến trình chết có thể là một giao điểm quan trọng cho sự gặp gỡ giữa Phật giáo và Khoa học tân tiến. Trong cuốn sách viết về “Giấc ngủ, giấc mơ và sự chết”, tiến sĩ Francisco J. Varda đã thuật lại một số các bài giảng của Ðạt Lai Lạt Ma về quan điểm khác nhau giữa Khoa Học và Phật Giáo Mật tông đối với tiến trình chết. Theo cuốn sách trên:

“Phật Giáo Tây Tạng (Kim Cang Thừa) cho rằng con người có hai nguồn năng lượng vi tế (một trắng một đỏ) tập trung tại vùng trái tim. Trong tiến trình chết, nguồn trắng từ trên đầu rút xuống trái tim, nguồn đỏ từ phía dưới cũng tìm lên trái tim. Khi hai nguồn năng lượng đó gặp nhau, chúng ta hoàn toàn bị chìm vào bóng tối, tiếp theo đó là giai đoạn cơ thể chìm trong ánh sáng của sự chết. Ánh sáng căn bản này gọi là Tịnh quang hay Linh quang, nó tùy thuộc từng cá nhân, có khi chỉ kéo dài vài giây phút, cũng có khi kéo dài nhiều ngày. Còn ở trong giai đoạn này, cơ thể và thần thức còn có liên hệ tới nhau, nên cái thân chưa bị hoại. Bao giờ cơ thể bắt đầu tàn hoại, thì lúc đó người ta mới thật sự chết!

Theo Phật Giáo Mật Tông, chết là một tiến trình rất dài, thường phải 3 ngày sau, các thành tố cấu tạo nên thân và tâm trong cơ thể người ta mới bị hư hoại hết. Do đó người Tây Tạng thường không động tới xác chết trong ba ngày đầu tiên, để cho cơ thể người chết được bình an trong khi thần thức đang rút lui từ từ. Thần thức siêu vi tế (Super subtle Consciousness - siêu vi tâm thức hay tàng thức) là thứ ra khỏi cơ thể người chết sau cùng để luân lưu tiếp trong vũ trụ bao la.”

Những vị tăng sĩ tu chứng có thể kéo dài tiến trình chết của họ nếu thấy cần. Ðại sư Tomo người Tây Tạng, vị thầy khả kính của Lạt Ma Govinda, cũng như nhiều thiền sư đã giác ngộ khác, thường chết trong tư thế thiền tọa. Ngài Tomo ngồi yên trên ghế nhiều ngày như đang nhập định, nên đệ tử không biết ngài tạ thế từ bao lâu rồi. Ðại sứ Anh tại Tây tạng thời đó là Richardson, đã lấy làm lạ lùng khi được nhìn tận mắt thân xác của đại sư Tomo ngồi như người còn sống trên chiếc ghế ông thường ngồi. Ông tưởng ngài vẫn sống, tới thăm hỏi mới hay ngài đã viên tịch nhiều tuần trước.

Cái chết trong văn hóa Tây Phương

Trong xã hội Tây phương từ nhiều thế kỷ qua, người ta thường tránh né cái Chết, coi đó là chuyện không nên nói tới, không có gì cần sửa soạn vì chết là hết, là sự hủy diệt toàn diệt, sự tiêu vong. Không ai muốn nói tới cái chết vì sợ hãi nó, hoặc sống trong sự phủ nhận cái chết, coi chết là chuyện của mọi người chứ không phải của mình! Người ta coi thường cái chết vì nghĩ khi nó tới thì đành chết thôi, có gì mà phải sửa soạn? Nhưng theo kinh nghiệm của các vị thiền giả đã suy ngẫm và chứng nghiệm các giai đoạn của sự chết, thì chết không phải là chuyện giản dị, dễ dàng cho tất cả mọi người!

Ðại sư Sogyal Rinpoche đang sống tại Âu Châu, cho rằng “Thái độ chối bỏ cái chết có những hậu quả khốc hại không những cho cá nhân mà còn ảnh hưởng tới toàn thể hành tinh này. Vì tin rằng chỉ có cuộc đời này mà thôi, người thời nay cướp bóc quả đất vì những mục tiêu cấp thời.” Quan điểm này cùng chiều hướng với quan điểm của những người muốn bảo vệ môi sinh trên thế giới. Ông bộ trưởng môi sinh xứ Brazil đã có lần lên tiếng:

“Xã hội tân tiến quả là một thứ tôn giáo cuồng tín. Chúng ta đang phá hoại, làm nhiễm độc, hủy diệt tất cả mầm sống trên hành tinh này. Chúng ta đang ký những giấy nợ mà con cháu chúng ta không thể trả nổi. Chúng ta đang sống như thể mình là những thế hệ chót trên hành tinh này. Nếu không có sự biến cải tận gốc rễ về tâm, trí và lối nhìn, thì trái đất sẽ kết thúc như Venus, cháy thành than và bị hủy hoại.”

Quan điểm “chết là hết” của Tây phương nay đã thay đổi, không chỉ trong dân chúng mà trong y giới nữa... Ðại sư Sogyal Rinpoche đã viết:

“Tôi rất phấn khởi khi thấy gần đây, vấn đề chết và hấp hối đã được mở ra ở Tây phương, nhờ những nhà tiên phong như Elizabeth Kubler-Ross và Raymond Moody. Bà Elizabeth khi quan sát kỹ lưỡng cách thức chúng tôi (người Tây Tạng) săn sóc những người sắp chết, bà đã hiểu rằng với một tình thương vô điều kiện và với một thái độ có tuệ giác, thì cơn hấp hối có thể là một kinh nghiệm an lành, người bệnh có thể chuyển hóa được ở những giây phút chót của cuộc đời họ.”

Bác Sĩ Elizabeth Kubler-Ross vài mươi năm gần đây đã thúc đẩy được một phong trào thiết lập các “Tiếp dẫn đường” (Hospice hay nhà cận tử) để cho các bệnh nhân sắp lìa đời vẫn được nhà thương chăm sóc và sửa soạn thân, tâm cho họ chứ không bỏ rơi họ như xưa, coi họ những cái máy đã hư hỏng, đáng vứt ra nhà quàn mà thôi.

Source: nguoivietonline.com

 

Bài Tháng Năm . 2009


Biên tập: Cư sĩ Liên Hoa (Nhật Minh)
Sửa văn bản tiếng Việt và trình bày : Diệu Tịnh | Sửa văn bản tiếng Anh: Diệu Ngọc
Phụ trách mạng : Chánh Niệm | Email: Padma9mt@hotmail.com


You are visitor number since January 24, 2005